DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP 8 TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂY SƠN, HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY.

dạy học theo định hướng phát triển năng lực

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP 8 TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂY SƠN, HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY.

HÀ NỘI, NĂM 2019

MỞ ĐẦU

1. Lịch sử nghiên cứu đề tài

TBác Hồ đã dạy một con người mới phải là một con người “vừa hồng vừa chuyên”, hồng thì phải thắm chuyên phải sâu. Muốn trở thành một con người mới phải được đào tạo từ các trường. Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng và nhà nước ta đã quan tâm đến việc giáo dục và giáo dưỡng học sinh.

– Hiện nay, đất nước ta đang tiếp tục xây dựng nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa với chất lượng cao đến năm 2020 nước ta thành một nước có nền công nghiệp đỉnh cao. Cùng với sự phát triển của đất nước thì ở các trường THCS việc giảng dạy môn Giáo dục công  dân (GDCD) cho học sinh vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học đối với học sinh trung học; động viên học sinh trung học tích cực tham gia Cuộc thi nghiên cứu khoa học kĩ thuật.

Thực tế cho thấy, khả năng động não phát triển năng lực cá nhân ở học sinh THCS còn tồn tại dưới dạng tiềm năng, chưa được khai thác. Nhiều học sinh muốn phát triển năng lực cá nhân hoặc năng lực đã từng được phát triển nhưng chưa được giáo viên quan tâm tạo điều kiện, chưa được các bạn trong lớp hưởng ứng chân thành. Vì nhiều điều kiện và lí do khác nhau khiến cho khả năng này chưa trở thành thói quen, thành kỹ năng được. Việc dạy học và môn GDCD ở trường THCS vì thế mà cũng trở nên nhàm chán hơn, hình thức truyền thụ một chiều. Học sinh nghe, hiểu và làm theo. Không phản hồi, phát huy được khả năng, năng lực của học sinh do vậy chất lượng dạy và học sẽ không được cải thiện.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Khảo sát việc dạy học môn GDCD để tiếp cận định hướng phát triển năng lực của học sinh THCS.

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các nguyên tắc và biện pháp để định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 8 thông qua dạy học môn GDCD ở trường THCS Tây Sơn. Qua đó khảo sát thực tế việc dạy học môn GDCD tại các trường THCS Tây Sơn và các trường trên địa bàn huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

  1. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

– Về thời gian: năm học 2018 – 2019.

– Về không gian: tại trường THCS Tây Sơn, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

– Về nội dung: Nghiên cứu việc dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 8 tại trường Trung học cơ sở Tây Sơn, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên hiện nay.

  1. Giả thuyết khoa học

Nếu đảm bảo các nguyên tắc và biện pháp đề xuất trong luận văn sẽ nâng cao được hiệu quả và chất lượng dạy học môn GDCD tại các trường THCS Tây Sơn, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, từ đó định hướng phát triển năng lực của học sinh trường THCS.

6. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 8 trường THCS Tây Sơn huyện Tây Hòa.

– Đề xuất các nguyên tắc và  biện pháp dạy học môn GDCD theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 8 trường THCS Tây Sơn huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

– Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khoa học, tính khả thi của các biện pháp dạy học môn GDCD theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 8 trường THCS Tây Sơn huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên.

7. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng chủ yếu một số phương pháp sau:

Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài. Sử dụng một số phương pháp như phân tích, đánh giá, tổng hợp, hệ thống hóa khái quát hóa… các tài liệu đã thu thập được.

Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát quá trình học tập của học sinh qua các giờ học. Điều tra thực trạng sử dụng PPDH các chủ đề nhằm phát triển năng lực GQVĐ trong dạy học hoá học hiện nay ở trường THCS.

8. Đóng góp mới của Luận Văn

Luận văn góp phần bổ sung vào kho tri thức về đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD theo định hướng phát triển năng lực của người học.

Nghiên cứu cơ sở lí luận làm sáng tỏ vai trò của dạy học các chủ đề trong việc phát triển NL GQVĐ cho học sinh.

Tìm hiểu cơ sở và đề xuất nguyên tắc xây dựng nội dung các chủ đề trong dạy học giáo dục công dân trung học cơ sở.

Xây dựng bộ công cụ đánh giá NL GQVĐ của HS thông qua dạy học các chủ đề.

Luận văn có thể trở thành nguồn tư liệu tham khảo cho các khóa tiếp theo, cho giáo viên dạy GDCD của trường THCS trên địa bàn huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

9. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực.

Chương II: Nguyên tắc và biện pháp dạy học GDCD lớp 8 theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 8 tại trường Trung học cơ sở Tây Sơn, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên hiện nay.

Chương III. Thực nghiệm dạy hoc theo định hướng phát triển năng lực môn giáo dục công dân lớp 8 tại trường Trung học cơ sở Tây Sơn, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG

Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP 8 TRƯỜNG THCS TÂY HÒA, PHÚ YÊN HIỆN NAY

1.1. Cơ sở lý luận của việc dạy học Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 8 tại trường Trung học cơ sở Tây Sơn, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên

  • Các khái niệm liên quan đến đề tài

– Năng lực

Khái niệm NL có nguồn gốc Latinh: “competentia” nghĩa là “gặp gỡ”. Ngày nay khái niệm NL được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau.

“NL được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. NL thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó.

Howard Gardner (1999): “NL phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được” [26, tr.11].

F.E.Weinert (2001) cho rằng: “NL là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc  sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách GQVĐ một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [28, tr.12].

OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định “NL là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [27, tr.12].

Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn NL là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống.

– Dạy học theo định hướng năng lực

Tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển năng, phẩm chất cũng không phải là mới. Tuy nhiên, quá trình tổ chức dạy học để phát huy năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho học sinh được sáng tạo và tương trợ lẫn nhau trong học tập thì mỗi tiết học cần sự thay đổi và thay đổi cụ thể trong mỗi giáo viên. Một thay đổi cần làm cụ thể, thiết thực và quan trọng để dạy học hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của cá nhân.

– Năng lực giải quyết vấn đề? Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề ở học sinh gồm những gì? Các năng lực cụ thể nằm trong năng lực giải quyết vấn đề?

Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của học sinh nhận ra các mâu thuẫn nhận thức trong các vấn đề học tập hoặc các vấn đề trong cuộc sống, và tìm ra được phương pháp để giải quyết mâu thuẫn, vượt qua các khó khăn, trở ngại. Từ đó tiếp thu được kiến thức, kĩ năng mới hoặc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.

Giải quyết vấn đề: Hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, vì cần huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân. Để GQVĐ, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đồng thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế

– Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề?

+ Khái niệm

Dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề: là tổ hợp các NL thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán, là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng. Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó – thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng (Định nghĩa trong đánh giá PISA, 2012).

Đặc trưng

Tình huống có vấn đề hay còn gọi là tình huống gợi vấn đề: là một tình huống gợi ra những khó khăn về lý luận hoặc thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vược qua, nhưng không phải ngay tức khắc mà phải trải qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức đang có.

Giải quyết vấn đề là xem xét, phân tích những vấn đề đang tồn tại và xác định các bước nhằm cải thiện tình hình, giúp học sinh vạch ra những cách thức giải quyết vấn đề, tình huống cụ thể gặp phải trong đời sống hàng ngày. 

+ Khái quát quy trình dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh THCS  

Quá trình giải quyết vấn đề bao gồm các bước

Bước 1: Đặt vấn đề. GV hoặc HS phát hiện vấn đề, nhận dạng vấn đề, nêu vấn đề cần giải quyết.

+ Nảy sinh mâu thuẫn giữa điều HS đã biết và điều đang gặp phải.

+ Gặp tình huống bế tắc trước nội dung mới.

+ Gặp tình huống, xuất phát từ nhu cầu nhận thức tại sao.

Bước 3: GQVĐ. GV hoặc HS đề xuất cách GQVĐ khác nhau (nêu giả thuyết khác nhau), thực hiện cách giải quyết đã đề ra (KT giả thuyết).

Bước 4: Kết luận vấn đề. Phân tích để chọn cách giải quyết đúng (lựa chọn giả thuyết đúng và loại bỏ giả thuyết sai). Nêu kiến thức hoặc kĩ năng, thái độ thu nhận được từ GQVĐ trên.

 

TRUNG TÂM LUẬN VĂN MBA-VIP VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ & TIẾN SĨ CHẤT LƯỢNG CAO.

Để biết nội dung toàn bộ bài viết xin bạn liên hệ với chúng tôi:

  • Hotline: 0926.708.666
  • Zalo: 0926.708.666.

Email:Lamthueluanvan2014@gmail.com

 

Tải toàn bộ bài: DOWNLOAD

Leave Comments

0926708666
0926708666