GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BĂNG THÔNG RỘNG TẠI VIỄN THÔNG HÀ NỘI

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH & CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

————————————–

 

 

GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BĂNG THÔNG RỘNG
TẠI VIỄN THÔNG HÀ NỘI

 

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

Mã số               : 8.340.410

 

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI HỮU ĐẠO

HÀ NỘI – 2019

MỤC LỤC

 

LỜI CAM ĐOAN.. i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.. v

DANH SÁCH CÁC BẢNG.. vi

DANH MỤC CÁC HÌNH.. vii

PHẦN MỞ ĐẦU.. 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING  TRONG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BĂNG THÔNG RỘNG.. 4

  1. Khái niệm dịch vụ băng thông rộng. 4
  2. Khái niệm dịch vụ băng thông rộng. 4
  3. Công nghệ dịch vụ băng thông rộng. 6
  4. 3. Phân loại dịch vụ băng thông rộng. 7
  5. Đặc điểm các dịch vụ băng thông rộng. 9
  6. Vai trò của dịch vụ băng thông rộng. 11

II.Tổng quan lý luận về hoạt động  Marketing của doanh nghiệp Viễn thông. 12

  1. Khái niệm Marketing. 12

1.1. Khái niệm Marketing. 12

1.2. Chức năng của Marketing. 13

1.3. Vai trò của Marketing. 14

1.4. Mục tiêu của hoạt động Marketing. 15

  1. Nội dung các chính sách Marketing dịch vụ của các doanh nghiệp. 15

2.1. Chính sách sản phẩm.. 16

2.2. Chính sách giá. 19

2.3. Chính sách phân phối 20

2.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp. 21

2.5. Quy trình cung cấp dịch vụ. 25

2.6. Con người 26

2.7. Cơ sở vật chất kỹ thuật 27

Kết luận chương 1. 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING MIX TRONG PHÁT TRIỂN BĂNG THÔNG RỘNG CỦA VIỄN THÔNG HÀ NỘI. 28

  1. Giới thiệu tổng quan về Viễn thông Hà Nội 28
  2. Quá trình phát triển của Viễn thông Hà Nội 28
  3. Chức năng, nhiệm vụ. 29

2.1. Chức năng. 29

2.2. Nhiệm vụ. 30

  1. Cơ cấu tổ chức. 31
  2. Cơ cấu lao động của Viễn thông Hà Nội 33

4.1. Cơ cấu lao động theo giới tính. 33

4.2. Cơ cấu theo trình độ. 34

  1. Kết quả kinh doanh dịch vụ băng thông rộng của Viễn thông Hà Nội 36
  2. Thực trạng hoạt động marketing của Viễn thông Hà Nội trong phát triển dịch vụ băng thông rộng 38
  3. Thực trạng thị trường băng thông rộng tại Hà Nội 38
  4. 2. Thực trạng dịch vụ băng thông rộng tại Hà Nội giai đoạn 2016 – 2018. 41
  5. Thực trạng thị phần băng thông rộng của viễn thông Hà Nội giai đoạn 2016 – 2018 41
  6. Thực trạng hoạt động marketing dịch vụ của viễn thông Hà Nội giai đoạn 2016 – 2018. 43

4.1 Chính sách sản phẩm.. 43

4.2 Chính sách giá: 48

4.3. Chính sách phân phối: 56

4.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp. 57

4.5. Quy trình dịch vụ. 59

4.6. Cơ sở vật chất 59

4.7. Con người 60

III. Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. 61

  1. Kết quả đạt được. 61
  2. Hạn chế tồn tại 62
  3. Nguyên nhân của những hạn chế. 62

Kết luận chương 2. 63

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ.. 64

BĂNG THÔNG RỘNG TẠI VIỄN THÔNG HÀ NỘI. 64

  1. Phương hướng phát triển dịch vụ băng thông rộng của viễn thông Hà Nội 64
  2. Định hướng phát triển chung của Tập Đoàn VNPT.. 64
  3. Định hướng phát triển của viễn thông Hà Nội 64
  4. Giải pháp marketing nhằm phát triển thị phần dịch vụ băng thông rộng tại Viễn thông Hà Nội. 66
  5. Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường. 66
  6. Hoàn thiện việc xây dựng và triển khai các chính sách marketing. 69

2.1. Chính sách sản phẩm. 69

2.2. Chính sách giá. 70

2.3. Chính sách phân phối. 71

2.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp. 73

2.5. Cải tiến công tác marketing, áp dụng công nghệ mới vào hoạt động giao dịch và quản lý  76

2.6. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và quảng bá thương hiệu. 78

2.7. Con người 78

  1. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nguồn nhân lực. 80

Định hướng phát triển nhân lực của Tập đoàn và của viễn  thông Hà Nội 80

3.1. Nâng cao chất lượng đầu vào. 81

3.2. Thực hiện tốt công tác đào tạo và tái đào tạo. 81

3.3. Cải tiến cơ chế phân phối thu nhập và bố trí lao động phù hợp. 82

3.4. Thực hiện công tác đào tạo đa ngành, chuyên sâu và xây dựng cán bộ nguồn kế cận.  82

3.5. Chính sách thu hút và đãi ngộ nhân tài 83

  1. Giải pháp tăng cường công tác chăm sóc khách hàng. 83

4.1. Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc khách hàng. 83

4.2. Nâng cấp tổng đài trả lời điện thoại 84

  1. Kiến nghị: 85

Kết luận chương 3. 86

KẾT LUẬN.. 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 88

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

 

Chữ viết tắt   Chữ viết đầy đủ
BTTTT : Bộ thông tin truyền thông
DSL : Digital subcriber line : là một họ kỹ thuật mà nó cung cấp kết nối kỹ thuật số thông qua cáp đồng của mạng điện thoại nội hạt.
FTTH : Fiber To The Home, là mạng viễn thông băng thông rộng bằng cáp quang
FTTx : Fiber to the x: là một kiến trúc mạng trong đó sợi quang được kéo từ thiết bị chuyển mạch của nhà cung cấp dịch vụ đến các thuê bao.
GTGT : Giá trị gia tăng
IPTV : Internet protocol television: Truyền hình giao thức internet.
: Quyết định
TT : Thông tư
VNPT Hà Nội : Viễn thông Hà Nội
VT – CNTT : Viễn thông – Công nghệ thông tin
xDSL : là viết tắt của một họ hay một nhóm công nghệ tiêu chuẩn DSL dùng để truyền dữ liệu trên đôi cáp xoắn.

DANH SÁCH CÁC BẢNG

 

Bảng 2.1. Cơ cấu lao động theo giới tính. 33

Bảng 2.2: Số lượng và tỷ trọng lao động theo trình độ. 35

Bảng 2.3. Doanh thu một số dịch vụ VT – CNTT của VNPT Hà Nội  giai đoạn 2016-2018  37

Bảng 2.4: Một số dịch vụ băng thông rộng của VNPT Hà Nội 43

Bảng 2.5. Sản lượng thuê bao của VNPT Hà Nội 45

 

DANH MỤC CÁC HÌNH

 

Hình 1.1.Quá trình sản phẩm thích ứng thị trường. 13

Hình 1.2. Sơ đồ kênh phân phối trực tiếp. 21

Hình 1.3. Sơ đồ kênh phân phối gián tiếp. 21

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại Viễn thông Hà Nội 32

Hình 2.2: Thị phần dịch vụ băng thông rộng tại Hà Nội năm 2016. 41

Hình 3.1: Các bước tổ chức thực hiện hoạt động Quảng cáo. 74

 

PHẦN MỞ ĐẦU

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Dịch vụ băng thông rộng là dịch vụ được hiểu là dịch vụ internet tốc độ cao, có tốc độ truyền tải dữ liệu trực tuyến rất cao có thể gấp từ vài chục đến cả trăm lần so với dịch vụ internet quay số truyền thống. Dịch vụ băng thông rộng có thể hoạt động trên nhiều công nghệ khác nhau như: Công nghệ xDSL; Công nghệ FTTx; Công nghệ IPTV…Đây là dịch vụ mới có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu về trao đổi thông tin với những ưu điểm vượt trội như băng thông lớn, chất lượng truyền dẫn tín hiệu bền bỉ, ổn định.

Đón đầu sự thay đổi của công nghệ và thị trường, VNPT đã sớm đưa dịch vụ băng thông rộng tới người dùng từ năm 2003 và hiện đang phục vụ hàng triệu khách hàng trên cả nước. Hiện nay, thị trường dịch vụ băng thông rộng đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt không chỉ giữa các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông truyền thống (VNPT, FPT telecom, viettel..) mà còn có sự tham gia của các doanh nghiệp truyền thông khác (SCTV, VTVcab…).

Vấn đề phát triển dịch vụ đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung, và đối với các doanh nghiệp viễn thông nói riêng là vấn đề cấp bách. Đặc biệt, trong thời buổi mở cửa kinh tế thì việc mở rộng phát triển dịch vụ là vô cùng quan trọng. Với sự có mặt của các nhà cung cấp dịch vụ Internet: các đơn vị FPT, VTC và Viettel, doanh nghiệp buộc phải đối mặt với cuộc cạnh tranh gay gắt chưa từng có với sự bùng nổ một loạt đơn vị kinh doanh dịch vụ băng thông rộng trong thời kỳ hội nhập này. Một trong những công cụ sắc bén giúp doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, cạnh tranh một cách có hiệu quả trên thị trường chính là Marketing. Marketing ngày càng có vai trò to lớn giúp 2 doanh nghiệp dự đoán và thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng, giữ khách hàng hiện có và lôi cuốn khách hàng mới.

Là đơn vị trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Viễn thông Hà Nội đang trong lộ trình tái cơ cấu doanh nghiệp. Để khẳng định vị thế, giữ vững và từng bước nâng cao thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực băng thông rộng, những năm vừa qua, Viễn thông Hà Nội đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó nhóm giải pháp Marketing được ưu tiên hàng đầu và đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, còn tồn tại một số hạn chế, bất cập, cần thiết phải nghiên cứu để khắc phục. Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp Marketing nhằm phát triển dịch vụ băng thông rộng tại Viễn thông Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp Cao học Quản trị kinh doanh để góp phần đưa ra giải pháp Marketing hiệu quả và phát triển thị phần dịch vụ băng thông rộng của Viễn thông Hà Nội.

  1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ băng thông rộng tại Viễn thông Hà Nội và các giải pháp nhằm cải thiện dịch vụ băng thông rộng trên địa bàn Hà Nội.

  1. Phạm vi nghiên cứu
  • Về nội dung: Đề tài luận văn tập trung đề xuất các giải pháp Marketing nhằm đẩy mạnh dịch vụ băng thông rộng
  • Không gian: Thực trạng thị phần dịch vụ băng thông rộng tại Hà Nội và các hoạt động Marketing được triển khai của Viễn thông Hà Nội.
  • Thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2016-2025
  1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận chung của đề tài, phân tích rõ thực trạng hoạt động marketing dịch vụ băng thông rộng ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh tại Viễn thông Hà Nội, từ đó tìm ra nguyên nhân của những tồn tại và đề xuất các giải pháp marketing để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trong bối cạnh hội nhập và cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của các phương pháp là chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong luận văn sử dụng các biện pháp nghiên cứu sau:

  • Phương pháp phân tích so sánh
  • Phương pháp tổng hợp
  • Phương pháp điều tra thực tế
  • Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
  1. Kết cấu nội dung của nghiên cứu:
  • Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; Kết cấu luận văn gồm 3 chương:
  • Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động Marketing trong phát triển dịch vụ băng thông rộng.
  • Chương 2: Thực trạng hoạt động Marketing của Viễn thông Hà Nội trong phát triển dịch vụ băng thông rộng.
  • Chương 3: Một số giải pháp Marketing nhằm phát triển dịch vụ băng thông rộng tại Viễn thông Hà Nội.

 

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING
TRONG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BĂNG THÔNG RỘNG

 

  1. Khái niệm dịch vụ băng thông rộng.
  2. Khái niệm dịch vụ băng thông rộng

Trong viễn thông, băng thông rộng là một đường truyền dữ liệu mà cho phép truyền nhiều tín hiệu và nhiều đường cùng lúc. Đường dẫn truyền có thể là cáp đồng trụccáp quangradio hoặc cáp xoắn đôi.

Trong bối cảnh truy cập Internet, băng thông rộng được sử dụng chỉ bất kỳ phương pháp truy cập Internet tốc độ cao nào luôn luôn kết nối và nhanh hơn truy cập quay số trên các dịch vụ analog cổ điển hoặc ISDN và PSTN.

Dịch vụ băng thông rộng được hiểu là dịch vụ internet tốc độ cao, có tốc độ truyền tải dữ liệu trực tuyến rất cao có thể gấp từ vài chục đến cả trăm lần so với dịch vụ internet quay số truyền thống. Dịch vụ băng thông rộng có thể hoạt động trên nhiều công nghệ khác nhau như: Công nghệ xDSL; Công nghệ FTTx; Công nghệ IPTV…

Định nghĩa của ITU: “Băng rộng là hệ thống thông tin hoặc dịch vụ có tốc độ truyền dẫn lớn hơn so với ISDN tốc độ cơ bản

Định nghĩa của FCC: “Dịch vụ băng rộng là kết nối số liệu có tốc độ tối thiểu 200 Kb/s trên ít nhất một hướng kết nối: đường lên hoặc đường xuống

Theo đặc điểm công nghệ, phương thức truyền dẫn của mạng viễn thông, các dịch vụ viễn thông cơ bản và giá trị gia tăng quy định tại Điều 9 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông được kết hợp với nhau thành các loại hình dịch vụ cụ thể sau đây:

  1. a) Dịch vụ viễn thông cố định bao gồm dịch vụ viễn thông cố định mặt đất, dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh;
  2. b) Dịch vụ viễn thông di động bao gồm dịch vụ viễn thông di động mặt đất, dịch vụ viễn thông di động vệ tinh, dịch vụ viễn thông di động hàng hải, dịch vụ viễn thông di động hàng không.

Thông tư số 05/2012/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và truyền thông ban hành ngày 18 tháng 5 năm 2012 phân loại các dịch vụ viễn thông đã cụ thể hóa việc phân loại các dịch vụ viễn thông theo nghị định 25/2011/NĐ-CP của Chính Phủ. Trong đó, tại điều 4, khoản 3 qui định dịch vụ viễn thông cố định bao gồm: Dịch vụ viễn thông cơ bản, Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng và Dịch vụ viễn thông cộng thêm. Ở điểm b của khoản này qui định: “Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng bao gồm: dịch vụ thư điện tử; dịch vụ thư thoại; dịch vụ fax gia tăng giá trị; dịch vụ truy nhập Internet, gồm dịch vụ truy nhập Internet băng hẹp có tốc độ tải thông tin xuống thấp hơn 256 kb/s và dịch vụ truy nhập Internet băng rộng có tốc độ tải thông tin xuống từ 256 kb/s trở lên và các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông”.

Tương tự, trong thông tư này tại Điều 5, khoản 5, điểm b về dịch vụ viễn thông di động cũng qui định:  “Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng bao gồm: dịch vụ thư điện tử; dịch vụ thư thoại; dịch vụ fax gia tăng giá trị; dịch vụ truy nhập Internet, gồm dịch vụ truy nhập Internet băng hẹp có tốc độ tải thông tin xuống thấp hơn 256 kb/s và dịch vụ truy nhập Internet băng rộng có tốc độ tải thông tin xuống từ 256 kb/s trở lên và các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng khác theo quy định của Bộ Thông  tin và Truyền thông”

Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân cung cấp, sử dụng dịch vụ viễn thông và các tổ chức, cá nhân liên quan tới hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ viễn thông tại Việt Nam. Cho nên, căn cứ thông tư này có thể hiểu: Dịch vụ băng thông rộng là dịch vụ truy nhập Internet có tốc độ tải thông tin xuống từ 256 kb/s trở lên.

Ưu điểm của các dịch vụ internet băng thông rộng so với các dịch vụ internet truyền thống là tốc độ truy cập cao, đáp ứng khả năng cung cấp đa dịch vụ. Liên tục giữ kết nối, không tín hiệu bận, không thời gian chờ, không phải quay số truy nhập. Riêng đối với FTTH, nhà cung cấp có thể cung cấp tốc độ download lên đến 10Gb/s và tốc độ download ngang bằng tốc độ upload, nhanh hơn gấp hàng trăm lần so với ADSL2+ vốn có tốc độ download lớn hơn tốc độ upload (bất đối xứng). Ngoài ra, đối với dịch vụ IPTV, sự vượt trội trong kỹ thuật truyền hình chính là khả năng tương tác giữa hệ thống với người xem. Cho phép người xem chủ động về thời gian và khả năng triển khai nhiều dịch vụ giá trị gia tăng khác, có thể khẳng định đây chính là công nghệ truyền hình của tương lai.

  1. Công nghệ dịch vụ băng thông rộng

Các dịch vụ băng thông rộng hoạt động trên nhiều nền công nghệ khác nhau, có thể phân ra làm hai nhóm bao gồm: Công nghệ không dây và công nghệ có dây.

* Công nghệ không dây: Có thể được phân chia một cách rõ rệt thành loại yêu cầu trực thị (LOS) và loại không yêu cầu trực thị (NLOS). Viba điểm-nối-điểm, hệ thống phân phát đa điểm cục bộ (LMDS), quang học không gian tự do (FSO-Free Space Optics) và vệ tinh băng rộng đều đòi hỏi trực thị cho truyền dẫn tín hiệu tin cậy, trong khi đó các công nghệ mạng tế bào như GSM, CDMA, 3G, WiFi, WiMAX và các công nghệ băng rộng không dây cố định như hệ thống phân bố đa kênh đa điểm (MMDS) không đòi hỏi trực thị giữa trung tâm phát và thiết bị thu. Rõ ràng là các công nghệ NLOS dữ liệu có các lợi thế về mặt dễ triển khai và vùng phủ sống của mạng rộng hơn.

* Công nghệ có dây:

– Công nghệ ADSL: (Asymmetric Digital Supscriber Line-đường dây thuê bao kỹ thuật số không đối xứng) là một công nghệ mới nhất cung cấp kết nối tới các thuê bao qua đường cáp điện thoại với tốc độ cao cho phép người sử dụng kết nối internet 24/24 giờ trong ngày mà không ảnh hưởng đến việc sử dụng điện thoại và fax. Công nghệ này tận dụng hạ tầng cáp đồng điện thoại hiện thời để cung cấp kết nối, truyền dữ liệu tốc độ cao. ADSL là một chuẩn được Viện tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ thông qua năm 1993 và gần đây đã được liên minh viễn thông quốc tế ITU công nhận và phát triển.

– Công nghệ FTTx: Mạng FTTx (Fiber- To- The- x) hiện đang được xem là sẽ đóng vai trò quan trọng trong vòng hai,ba năm tới do tiềm năng cung cấp băng thông cho khách hàng lớn hơn so với cáp đồng, đáp ứng nhu cầu truyền thoại, dữ liệu và video trên nền IP. Các công nghệ thường được sử dụng để tạo dựng các mạng FTTx, bao gồm cả các mạng quang thụ động, các đường dây thuê bao số (DSL) và các công nghệ nén video.

FTTx (Fiber-To-The-x) là một thuật ngữ nói chung chỉ một kiến trúc mạng sử dụng cáp quang để kết nối viễn thông, FTTx bao gồm các loại sau:

+ FTTN (Fiber To The Node)

+ FTTC (Fiber To The Curb)

+ FTTB (Fiber To The Building)

+ FTTH (Fiber To The Home)

Dự kiến FTTH sẽ dần thay thế ADSL trong tương lai gần một khi băng thông ADSL không đủ sức cung cấp đồng thời các dịch vụ trực tuyến trong cùng một thời điểm. FTTH cung cấp 1 IP tĩnh thích hợp với các doanh nghiệp, tổ chức triển khai dễ dàng các dịch vụ trực tuyến như IP Camera, lưu trữ mail, truyền dữ liệu tốc độ cao…

– Công nghệ IPTV: IPTV là tên viết tắc của Internet Protocol Television: Truyền hình qua giao thức internet.

IPTV- một phương thức cung cấp dịch vụ truyền hình mới làm thay đổi đáng kể thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình truyền thống.

IPTV là mạng truyền hình kết hợp chặt chẽ với mạng viễn thông, là các dịch vụ đa phương tiện (ví dụ như dữ liệu truyền hình, video, âm thanh, văn bản, đồ họa…) được phân phối trên một mạng IP có sự quản lý để cung cấp các mức yêu cầu về chất lượng của dịch vụ, an toàn, có tính tương tác và tin cậy. Ngày nay, với IPTV khách hàng có thể xem truyền hình, nghe radio, tạm dừng chương trình truyền hình đang xem, lưu trữ để xem lại, chơi game, đọc truyện, hát karaoke, tra cứu điểm thi…

IPTV chính thức ra đời lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1999 do Kingston Communications, một nhà cung cấp dịch vụ ở Anh triển khai, nó đánh dấu một bước phát triển mới của công nghệ truyền hình. Tuy nhiên, đầu năm 2000 thì IPTV mới thực sự phát triển mạnh ở các quốc gia lớn như Anh, Mỹ, Đức, Hồng Kông…

Tại Việt Nam, FPT Telecom là doanh nghiệp viễn thông đầu tiên chính thức khai thác và cung cấp dịch vụ IPTV trên hệ thống mạng băng rộng ADSL/ADSL2+ từ ngày 03 tháng 06 năm 2006. Năm 2009 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và công ty Viễn thông số VTC Digicom chính thức ra mắt dịch vụ IPTV trên mạng ADSL2+ sau gần sáu năm thử nghiệm với các dịch vụ đa dạng như LiveTV, VoD,… để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Đến khoảng tháng 5 năm 2011 công ty Viễn thông Quân đội Viettel cũng cho ra đời dịch vụ truyền hình IPTV dưới tên gọi NetTV.

  1. 3. Phân loại dịch vụ băng thông rộng

Có rất nhiều loại dịch vụ băng thông rộng được các nhà cung cấp dịch vụ cung cấp tới khách hàng hiện nay, tuy nhiên có bảy loại phổ biến hiện nay gồm:

* ADSL: Là dịch vụ internet tốc độ cao, dựa trên công nghệ đường dây thuê bao số bất đối xứng ADSL với ưu điểm nổi bật là tốc độ cao, có nhiều gói cước linh hoạt, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao và đa dạng của khách hàng.

* FTTH: Là dịch vụ internet tốc độ cao bằng cáp quang được kết nối tới tận nhà thuê bao để cung cấp các dịch vụ tốc độ cực cao. Điểm khác biệt so với ADSL là FTTH có tốc độ nhanh hơn gấp nhiều lần và có tốc độ tải lên (upload) và tải xuống (download) là ngang nhau. Ngoài ra FTTH cũng có thể thích hợp cho việc phát triển đa dịch vụ trên một đường dây (internet, điện thoại, IPTV…), đảm bảo tính ổn định, không bị suy hao tín hiệu bởi nhiễu từ, thời tiết.

* Internet trực tiếp (Leased Line): Internet trực tiếp là dịch vụ truy nhập internet tốc độ cao, đối xứng qua kênh thuê riêng từ địa điểm khách hàng đến POP internet của VDC với tốc độ theo yêu cầu của khách hàng từ 64Kbps đến hàng chục Kbps. Với những tính năng bảo mật, ổn định và khả năng triển khai các ứng dụng tốt nhất, VNN Internet trực tiếp đặc biệt thích hợp với các doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu sử dụng internet bảo mật, ổn định, tốc độ cao và không chia sẻ băng thông.

* METRONET: Dịch vụ Metronet là dịch vụ kết nối mạng (như mạng LAN tại các văn phòng, chi nhánh…) của một doanh nghiệp, một tổ chức thành một mạng riêng, duy nhất. Về mặt kỹ thuật, dịch vụ Metronet chính là VPLS (Virtual Private LAN Service), mạng riêng ảo lớp 2 dựa trên công nghệ MPLS và Ethernet.

* MEGAWAN (dịch vụ mạng riêng ảo VPN): Dịch vụ Megawan là một mạng riêng của khách hàng dựa trên cơ sở hạ tầng mạng công cộng dùng chung. Dịch vụ xDSL-WAN là dịch vụ kết nối các mạng máy tính trong nước và quốc tế bằng đường dây thuê bao SHDSL (công nghệ đường dây thuê bao đối xứng) hoặc ADSL (công nghệ đường dây thuê bao số bất đối xứng) kết hợp với công nghệ MPLS/VPN trên mạng NGN.

* Dịch vụ truyền hình hội nghị: Dịch vụ truyền hình hội nghị (NGN) là dịch vụ truyền dẫn tín hiệu hình ảnh và âm thanh giữa hai hoặc nhiều điểm khác nhau. Dịch vụ truyền hình hội nghị cho phép nhiều người tham dự tại các địa điểm có thể trao đổi trực tiếp bằng âm thanh, hình ảnh qua màn hình và loa. Hệ thống truyền hình hội nghị NGN còn cung cấp nhiều tiện ích khác cho người sử dụng như: Kết nối với máy tính để trình chiếu văn bản, kết nối với hệ thống âm thanh ngoài, các thiết bị lưu trữ  (đầu ghi, băng từ, đĩa quang VCD, DVD hoặc ổ cứng) để lưu những phiên hội thảo quan trọng.

* Dịch vụ IPTV: IPTV là dịch vụ truyền hình đa phương tiện hoạt động trên nền một mạng IP, mang đến cho khách hàng hình thức giải trí khác biệt: truyền hình theo yêu cầu.

  1. Đặc điểm các dịch vụ băng thông rộng

*Tính không vật chất của dịch vụ băng thông rộng

Các dịch vụ băng thông rộng làm nhiệm vụ truy nhập tốc độ cao, đưa internet thành dịch vụ phổ biến tới người dùng. Ngoài ra, các dịch vụ băng thông rộng cũng còn làm nhiệm vụ truyền đưa tin tức, thông tin từ người gửi đến người nhận thông qua hình thức chuyển mạch gói. Sự chuyển dịch này thể hiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp viễn thông. Đặc điểm này làm cho chất lượng của dịch vụ phụ thuộc chủ yếu vào sự cảm nhận của khách hàng, một biến số không phải bao giờ cũng đồng nhất. Các khách hàng, nhóm khách hàng luôn có những nhu cầu và sở thích khác nhau. Việc nghiên cứu để hiểu biết đặc điểm và sự biến động nhu cầu của khách hàng đóng vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ băng thông rộng.

Do dịch vụ băng thông rộng không phải là vật chất cụ thể tồn tại ngoài quá trình sản xuất nên không thể đưa vào cất giữ trong kho, không thể thay thế dịch vụ kém chất lượng bằng dịch vụ tốt.

Do không phải là sản phẩm vật chất nên để nhận biết chất lượng dịch vụ, khách hàng thường tìm hiểu qua những đối tượng vật chất tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất dịch vụ như: Điểm giao dịch, thiết bị đầu cuối, hạ tầng mạng, các nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất dịch vụ…

* Tính không đồng nhất về chất lượng của dịch vụ băng thông rộng

Các dịch vụ băng thông rộng có biến động lớn so với các sản phẩm vật chất và không tiêu chuẩn hóa được với hai lí do sau:

– Thứ nhất, do hoạt động cung cấp dịch vụ. Các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra dịch vụ giống hệt nhau trong những thời điểm làm việc khác nhau.

– Thứ hai, khách hàng là người quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ. Vào những thời điểm khác nhau, với những khách hàng khác nhau sẽ có sự cảm nhận khác nhau. Dịch vụ sẽ có giá trị cao khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng. Do đó trong cung cấp dịch vụ băng thông rộng thường thực hiện cá biệt hóa việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Cần lưu ý rằng, tuy các dịch vụ không giống nhau, không đồng nhất giữa một dịch vụ này với một dịch vụ khác nhưng những dịch vụ cùng loại chỉ khác nhau về lượng trong sự đồng nhất để phân biệt với các loại dịch vụ khác.

 

* Tính không tách rời giữa quá trình sản xuất và quá trình sử dụng dịch vụ băng thông rộng

– Các dịch vụ băng thông rộng thường được khách hàng sử dụng ngay khi nó đang được tạo ra và khách hàng cũng trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ. Như vậy, phải có khách hàng thì quá trình sản xuất dịch vụ mới bắt đầu được.

– Từ đặc điểm này cho thấy, vấn đề chất lượng dịch vụ băng thông rộng là vô cùng quan trọng, bởi vì khách hàng phải sử dụng ngay dịch vụ do doanh nghiệp viễn thông tạo ra, không qua khâu kiểm tra chất lượng, dù là chất lượng kém cũng không thể thay thế bằng dịch vụ khác. Trong nhiều trường hợp, do chất lượng dịch vụ kém đã gây ra hậu quả không thể bù đắp được cho khách hàng cả về vật chất và tinh thần.

– Cũng do quá trình sản xuất và sử dụng không tách rời nhau nên để sử dụng các dịch vụ băng thông rộng, khách hàng phải có mặt ở các địa điểm giao dịch của doanh nghiệp viễn thông hoặc có đường truyền (đường cáp đồng hoặc cáp quang, 3G) và thiết bị (máy đầu cuối). Để kích thích và thỏa mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng và nâng cao chất lượng dịch vụ, doanh nghiệp viễn thông cần phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ rộng khắp, đưa mạng lưới thông tin đến gần đối tượng sử dụng và không ngừng nâng cao chất lượng mạng lưới.

* Tính không đồng đều về tải trọng dịch vụ băng thông rộng theo không gian và thời gian

– Nhu cầu truy nhập của khách hàng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp viễn thông. Doanh nghiệp viễn thông phải có nhiệm vụ làm thỏa mãn tốt nhất mọi nhu cầu về truy nhập của khách hàng, thu hút và làm tăng các nhu cầu này.

– Tuy nhiên, nhu cầu truy nhập của khách hàng rất đa dạng, xuất hiện không đồng đều về thời gian và không gian. Sự dao động không đồng đều của tải trọng cộng với những quy định về tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ đòi hỏi doanh nghiệp viễn thông phải đảm bảo sự sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

– Do dịch vụ không thể dự trữ được nên để đảm bảo lưu thoát hết nhu cầu về truy nhập, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải có một lượng dự trữ nhất định về phương tiện, thiết bị thông tin và lao động.

 

  1. Vai trò của dịch vụ băng thông rộng

Hiện nay, Internet đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và trở thành một công cụ không thể thiếu trong công việc hàng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản, Internet là một mạng lưới thông tin phủ rộng trên toàn cầu để kết nối với các thiết bị máy tính, điện thoại giúp chúng ta tìm kiếm thông tin và giải quyết mọi vấn đề một cách nhanh chóng. Đây được coi là một kho chứa dữ liệu thông tin khổng lồ giúp bạn tìm thấy tất cả mọi thông tin bạn cần, bạn chỉ việc thực hiện một vài thao tác đơn giản là hàng loạt các thông tin liên quan được gửi về để bạn lựa chọn. Như trước đây, khi có những thắc mắc trong công việc, học tập chúng ta phải mất thời gian đi tìm tài liệu hoặc hỏi người này người kia để tìm câu trả lời, thì bây giờ mọi chuyện đã được đơn giản hóa khi có Internet. Bởi khả năng lưu trữ thông tin của Internet là vô hạn mà không một cuốn sách hay nhà khoa học nào có thể so sánh được.

Chỉ cần bạn sở hữu một chiếc điện thoại hoặc máy tính có kết nối Internet thì bạn như có cả một thế giới thu nhỏ trong tay, bạn có thể mua sắm, học tập, làm việc và tìm kiếm mọi thứ bạn cần bởi lượng thông tin trên Internet luôn được cập nhật từng giờ từng phút theo chuyển biến của xã hội. Bạn có thể ngồi một chỗ mà vẫn có thể biết được mọi chuyện đang xảy ra trên toàn thế giới.

Internet không chỉ là một công cụ có khả năng lưu trữ lớn mà nó còn có thể truyền tải thông tin đến mọi nơi với tốc độ nhanh bất ngờ. Trong công việc, Internet giúp chúng ta trao đổi thông tin, họp hành qua email hoặc video, vừa tiết kiệm thời gian, vừa đảm bảo hoàn thành được công việc. Trong thời gian rảnh rỗi, chúng ta có thể nói chuyện với bạn bè qua ứng dụng Facebook, Zalo, Skype… hoặc nhiều ứng dụng thông minh khác, thông tin sẽ được gửi đến người nhận chỉ trong vài giây, hoặc nghe nhạc, xem phim để giảm căng thẳng mệt mỏi.

Với sự phổ biến của Internet như hiện nay, thì bất cứ ai cũng có thể dùng Internet để truy cập thông tin phục vụ cho nhu cầu của mình. Nhờ đó, chúng ta dễ dàng có thêm nhiều mối quan hệ với bạn bè ở khắp nơi trên thế giới. Dù khoảng cách của chúng ta ở rất xa thì vẫn có thể nói chuyện, nhìn thấy nhau như ngồi nói chuyện trực tiếp vậy. Vậy mới thấy Internet giúp thu nhỏ khoảng cách và đưa con người đến gần nhau hơn.

Khi bạn sử dụng Internet tại nhà, gần như chắc chắn bạn đang sử dụng một dạng thức của băng thông rộng. Và Trong kỷ nguyên số và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hiện nay, hạ tầng viễn thông CNTT, hạ tầng băng rộng di động đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội.

II.Tổng quan lý luận về hoạt động  Marketing của doanh nghiệp Viễn thông

  1. Khái niệm Marketing.

1.1. Khái niệm Marketing

Có nhiều khái niệm khác nhau về Marketing, mỗi khái niệm phản ánh một số đặc trưng của nội dung Marketing, có thể nêu một số khái niệm sau:

Theo Philip Kotler:  Marketing là một chức năng kinh doanh nhằm xác định nhu cầu và ước muốn của khách hàng, xác định thị trường mục tiêu phục vụ tốt nhất, thiết kế sản phẩm và dịch vụ, xây dựng chương trình hoạt động phù hợp để phục vụ cho thị trường mục tiêu này.

Theo Hiệp hội Marketing Mỹ: Marketing là việc tiến hành các hoạt động có liên quan đến việc chuyển sản phẩm, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.

Marketing là một tiến trình bao gồm vạch kế hoạch và thực hiện các quan niệm, định giá, khuyến mại, sự phân phối các tư tưởng, hàng hoá, dịch vụ để tạo ra một sự trao đổi có khả năng làm thoả mãn các mục tiêu khác nhau của cá nhân và tổ chức.

Marketing được xem như là việc tổ chức và điều hành các hoạt động kinh tế hướng vào việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng ở mức độ cao nhất. Như vậy, phương châm của Marketing là chỉ bán cái thị trường cần chứ không phải bán cái có sẵn, xuất phát từ lợi ích của người mua.

Theo Viện nghiên cứu Marketing Anh: Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và thực hiện toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa lô hàng đó đến tay người tiêu dùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận dự định.

Bản chất của Marketing: là một hệ thống các hoạt động kinh tế, là tổng thể các giải pháp của một công ty trong hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu của mình; là sự tác động tương hỗ hai mặt của một quá trình thống nhất: một mặt nghiên cứu thận trọng, toàn diện nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, định hướng sản xuất nhằm đáp ứng những nhu cầu đó; mặt khác tác động tích cực đến thị trường, đến nhu cầu hiện tại và tiềm tàng của người tiêu dùng.

Qua đó, có thể định nghĩa một cách tổng quát về Marketing: Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con người

1.2. Chức năng của Marketing

  1. Chức năng làm cho sản phẩm thích ứng với thị trường

Thị trường luôn biến động, doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải thường xuyên làm cho sản phẩm của mình thích ứng với nhu cầu thị trường, mà công cụ không thể thiếu được là Marketing. Thông qua các hoạt động, Marketing có thể thâu tóm, phối hợp các hoạt động của bộ phận kỹ thuật, tiêu chuẩn hoá sản phẩm, sản xuất, nghiên cứu thị trường, sản xuất bao gói, nhãn hiệu… nhằm mục tiêu chung là làm tăng tính hấp dẫn của sản phẩm trên thị trường, thoả mãn tốt nhu cầu của người tiêu dùng.

Có thể nói, Marketing là kim chỉ nam hướng dẫn các nhà kỹ thuật cải tiến, đổi mới sản phẩm.

 

Sơ đồ trên là quá trình làm cho sản phẩm thay đổi để thích ứng hơn với thị trường.

Hoạt động Marketing cần phải tập trung thực hiện:

–  Điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường, chức năng của sản phẩm, dịch vụ.

– Tìm cách đưa ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường.

– Thường xuyên thay đổi, hoàn thiện sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu biến đổi của thị trường.

  1. Chức năng phân phối

Bao gồm toàn bộ các hoạt động nhằm tổ chức vận động tối ưu các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra đến tay người tiêu dùng. Đó là việc lựa chọn, tổ chức và quản lý các kênh phân phối hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Chức năng phân phối gồm 4 nội dung:

– Lựa chọn khách hàng: người bán buôn, người bán lẻ, khách hàng cuối cùng.

– Hướng dẫn khách hàng về thủ tục mua hàng, giao hàng, h.

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN TOÀN BỘ BÀI VIẾT XIN QUÝ KHÁC LIÊN HỆ

Web: http://chuyenvietthueluanvan.com/

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline, ZALO: 0926.708.666

Leave Comments

0926708666
0926708666