NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP  VỪA VÀ NHỎ TẠI VIETCOMBANK CHI NHÁNH HỘI SỞ

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN HẬU CẦN

 

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP  VỪA VÀ NHỎ TẠI VIETCOMBANK CHI NHÁNH HỘI SỞ

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

 

Hà Nội – Năm 2018

 

DANH MỤC HÌNH

Hình 1. 1. Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua tổ tiết kiệm và vay vốn  29

Hình 2. 1: Cơ cấu kinh tế PGD Mỹ Đức năm 2017. 32

Hình 2. 2: Mô hình tổ chức Ngân hàng VietcomBank Việt Nam – Chi nhánh PGD Mỹ Đức  36

Hình 2. 3. Biểu đồ tăng giảm thu chi tài chính của Ngân hàng VietcomBank – PGD Hội sở  63

Hình 2. 4. Biểu đồ số tiền cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ủy thác qua các tổ chức 2015 -2017. 67

 

 

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2. 1: Cơ cấu ngành kinh tế PGD Mỹ Đức giai đoạn 2014 – 2017. 31

Bảng 2. 2. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng VietcomBank Việt Nam chi nhánh Hội sở. 45

Bảng 2. 3. Cơ cấu vốn tín dụng của Ngân hàng VietcomBank Việt Nam – Chi nhánh PGD Mỹ Đức giai đoạn 2015 – 2017. 47

Bảng 2. 4: Các chương trình cho vay tại Ngân hàng VietcomBank Việt Nam chi nhánh Hội sở. 49

Bảng 2. 5: Kết quả công tác sử dụng vốn của Ngân hàng VietcomBank Việt Nam – Chi nhánh PGD Mỹ Đức. 52

Bảng 2. 6. Quy mô dư nợ của Ngân hàng VietcomBank – PGD – PGD Hội sở  theo thành phần. 54

Bảng 2. 7. Doanh số cho vay, thu nợ và tình hình dư nợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ 2015-2017. 56

Bảng 2. 8. Số doanh nghiệp vừa và nhỏ được vay vốn tại NHSXH Mỹ Đức giai đoạn 2015 -2017. 58

Bảng 2. 9. Số hộ thoát nghèo của – PGD Hội sở  giai đoạn 2015-2017. 59

Bảng 2. 10. Dư nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHSXH – PGD Hội sở  giai đoạn 2015 – 2017. 60

Bảng 2. 11. Kết quả thu chi tại NHCSXH – PGD Hội sở  giai đoạn 2015 – 2017  62

Bảng 2. 12: Thực trạng ủy thác cho vay qua các Tổ chức chính trị – xã hội tại 2015 – 2017  65

Bảng 2. 13: Vòng quay vốn tín dụng Ngân hàng VietcomBank Việt Nam – Chi nhánh PGD Mỹ Đức. 69

Bảng 2. 14: Kết cấu dư nợ cho vay Ngân hàng VietcomBank Việt Nam – Chi nhánh PGD Mỹ Đức. 71

Bảng 2. 15. Dư nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHSXH – PGD Hội sở  giai đoạn 2015 – 2017. 73

Bảng 2. 16: Vốn bị xâm tiêu, chiếm dụng. 75

Bảng 2. 17: Thực trạng ủy thác cho vay qua các Tổ chức chính trị – xã hội tại 2015 – 2017  77

Bảng 2. 18: Kết quả kiểm tra của Ban đại diện HĐQT. 81

Bảng 2. 19: Kết quả kiểm tra vốn vay. 82

Bảng 3. 1. Các yêu cầu về điểm giao dịch xã của Ngân hàng VietcomBank – PGD Hội sở  104

Bảng 3. 2. Kế hoạch đào tạo nguồn nhân sự của Ngân hàng VietcomBank – PGD Hội sở 2018 -2022. 115

Bảng 3. 3. Kinh phí dự kiến cho đào tạo cán bộ tín dụng. 117

 

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động tín dụng cho vay ưu đãi người nghèo và các đối tượng chính sách khác là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta được cụ thể hoá bằng Nghị định số 78/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ. Theo đó, thông qua kênh tín dụng ưu đãi của Nhà nước do Ngân hàng VietcomBank thực hiện, tạo điều kiện cho các người nghèo và các đối tượng chính sách khác có cơ hội mở rộng sản xuất kinh doanh, vươn lên làm giàu, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và công bằng xã hội.

Tín dụng của Ngân hàng VietcomBank nhằm xóa đói giảm nghèo có ý nghĩa vô cùng to lớn về mặt thực tiễn, nó thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước của các tổ chức chính trị – xã hội đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thực tế sau 15 năm hoạt động của Ngân hàng VietcomBank đã chứng minh rằng cho vay  uỷ thác qua các tổ chức chính trị – xã hội là phương pháp cho vay hiệu quả nhằm góp phần to lớn thực hiện mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo. Đây là một loại hình tín dụng chính sách thông qua các tổ chức chính trị – xã hội, dưới sự quản lý của các cấp ủy, chính quyền địa phương để thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải nghiên cứu hoàn thiện nó để phát huy hiệu quả cao hơn nữa thực hiện nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao.

Bên cạnh đó, hiện nay hoạt động tín dụng chính sách xã hội đang được các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội rất quan tâm, đồng tình ủng hộ. Nó là một đòi hỏi khách quan trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhằm thực hiện mực tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Trong số các địa phương của cả nước, thì Ngân hàng VietcomBank Việt Nam – Chi nhánh Hội sở triển khai sớm, có hiệu quả và thu được một số bài học kinh nghiệm quan trọng về phương thức ủy thác cho vay vốn doanh nghiệp vừa và nhỏ qua các tổ chức chính trị – xã hội. Song thực tiễn cũng đang đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện phương thức cho vay này.

Với những lý do nói trên, luận văn lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank chi nhánh Hội sở” để nghiên cứu là xuất phát từ tính cấp bách đang đặt ra trong thực tiễn hiện nay.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng chính sách và chất lượng tín dụng chính sách của Ngân hàng VietcomBank.

– Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của Ngân hàng VietcomBank việt nam – Chi nhánh Hội sở – chi nhánh thành phố hà nội

– Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VietcomBank việt nam – Chi nhánh Hội sở – chi nhánh thành phố hà nội trong thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên

– Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chất lượng tín dụng của Ngân hàng VietcomBank.

– Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động tín dụng tại Ngân hàng VietcomBank Việt Nam – PGD Hội sở.

Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động tín dụng tại Ngân hàng VietcomBank Việt Nam – PGD Hội sở trong các năm 2015 – 2017.

4. Ý nghĩa nghiên cứu

Việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa vô cùng quan trọng và nó giúp chúng ta nâng cao được hiệu quả chương trình cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác, tiết kiệm vốn và chi phí cho Nhà nước đảm bảo cho việc đầu tư đúng mục đích, đúng đối tượng sử dụng vốn hiệu quả góp phần to lớn vào sự nghiệp xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội. Từ đó nâng cao vị thế vai trò của Ngân hàng VietcomBank, củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu mô tả với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp, điều tra xã hội học thông qua phiếu điều tra và phân tích số liệu thu thập tại các phòng kế toán, phòng hành chính nhân sự và phòng kinh doanh trong Ngân hàng VietcomBank Việt Nam – PGD Hội sở.

Phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp

Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp các nhà quản trị cũng như các cán bộ phòng kế toàn tài chính, nhằm thu thập được các thông tin liên qua như: tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong thời gian qua, tình hình huy động và sử nguồn vốn vay và định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Thu thập các dữ liệu cần thiết  chủ yếu tại phòng kinh doanh, phòng hành chính tổng hợp và phòng kế toán từ các nguồn sẵn có như tài liệu của phòng kế toán và phòng kinh doanh qua các năm 2015 -2017, báo, tạp chí và internet.

Phương pháp xử lý thông tin

Tiến hành phân tích thống kê miêu tả bằng kỹ thuật lập bảng, so sánh ngang bằng phần mềm Excel, so sánh chéo các số liệu thu được, sắp xếp theo thứ tự các dữ liệu đã được thu thập, rút ra mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu đã thực hiện và đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu và các phương hướng làm cơ sở đưa ra giải pháp.

6. Kết cấu của luận văn:

Luận văn này ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, một số sơ đồ, biểu bảng số liệu, nội dung chính được kết cấu thành 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách của Ngân hàng VietcomBank

Chương 2:  Thực trạng chất lượng tín dụng  tại Ngân hàng VietcomBank chi nhánh Hội sở.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VietcomBank Việt Nam chi nhánh Hội sở.

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ  TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG VIETCOMBANK

1.1. Vấn đề cơ bản về tín dụng chính sách của Ngân hàng VietcomBank

1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng chính sách

Đối tượng chính sách là những người nghèo, rất nghèo, những người không có việc làm, thu nhập thấp hoặc những hộ gia đình có công với cách mạng nhưng gặp hoàn cảnh khó khăn, hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa…Các đối tượng chính sách bao gồm:

–        Doanh nghiệp vừa và nhỏ

–        Hộ gia đình có công với cách mạng.

–        Hộ gia đình thương binh, liệt sỹ.

–        Hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số có thu nhập thấp.

–        Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai.

–        Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật…).

–        Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn.

Trong cuộc sống hàng ngày của các đối tượng chính sách (bao gồm người nghèo và các đối tượng chính sách khác – thuật ngữ này sẽ được sử dụng trong luận án), việc rơi vào tình trạng thiếu hụt các khoản tài chính cho các nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, đi lại, học hành, việc làm… cho tới các nhu cầu khẩn cấp như bị ốm đau, trộm cắp, thiên tai thậm chí là các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, mua nguyên vật liệu, sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên. Việc thiếu hụt nguồn tài chính tài trợ cho các nhu cầu này là lực cản lớn đối với khả năng xóa đói, giảm nghèo của chính bản thân người nghèo và các đối tượng chính sách khác cũng như mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội của một quốc gia. Có điều này là vì dù họ có sức lao động, có mong muốn vươn lên nhưng do khó tiếp cận với các nguồn lực khiến cho họ rơi vào vòng luẩn quẩn là bẫy nghèo và những bất bình đẳng khác. Những hạn chế về khả năng đáp ứng các quy định về vay vốn của TCTD khiến cho các đối tượng chính sách gần như không thể tìm ra nguồn vốn tài chính đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh. Gắn kết đặc điểm này cùng với vai trò quan trọng của Nhà nước đối với công tác giảm nghèo dẫn tới sự cần thiết của Nhà nước trong việc cung cấp, hỗ trợ cung cấp nguồn tín dụng chính sách cho nhóm đối tượng này. Để thực hiện công cuộc giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội, Nhà nước thường sử dụng các công cụ tài chính như thu, chi ngân sách để hướng nguồn lực tài chính của Nhà nước và xã hội một cách có hiệu quả nhất tới người nghèo và các đối tượng chính sách khác, giúp cho họ có thể có vốn để sinh hoạt, sản xuất kinh doanh, từ đó thoát nghèo. Trên cơ sở đó, khái niệm tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách có thể được hiểu như sau:

Tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động, cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn với các ưu đãi so với tín dụng thông thường, để phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.

Từ định nghĩa tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác, có thể rút ra các điểm cần chú ý như sau [15]:

Thứ nhất, mục tiêu của tín dụng cho các đối tượng chính sách là nhằm giúp cho họ có vốn để sản xuất, kinh doanh tạo việc làm nâng cao thu nhập. Tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách không vì mục tiêu lợi nhuận, mà vì mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.

Thứ hai, nguyên tắc tín dụng chính sách phải sử dụng vốn đúng mục đích bảo đảm hoàn trả được vốn vay (gồm cả gốc lẫn lãi) cho TCTD đúng thời hạn như đã thỏa thuận.

Thứ ba, tín dụng chính sách được ưu đãi bao gồm: ưu đãi về điều kiện vay vốn như tài sản bảo đảm tiền vay, thủ tục và các quy trình giải ngân, ưu đãi về lãi suất vay vốn và thời hạn vay vốn. Điều kiện cấp tín dụng cho các đối tượng chính sách phải bảo đảm được tính linh hoạt và phù hợp với hoàn cảnh của họ. Các thủ tục vay vốn, các yêu cầu về điều kiện tài chính, và tài sản bảo đảm cần được điều chỉnh linh hoạt trong từng thời điểm, từng mục đích vay vốn, gắn với thực tiễn địa phương và hoàn cảnh của người nghèo và các đối tượng chính sách khác để bảo đảm họ có thể tiếp cận được vốn vay.

Thứ tư, tín dụng chính sách cần hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách về năng lực sản xuất kinh doanh như khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, đào tạo nghề, chỉ dẫn các thị trường đầu vào cho sản xuất lẫn đầu ra cho sản xuất.

1.1.2. Đặc điểm tín dụng chính sách

Một số đặc điểm nổi bật của tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác xuất phát từ đặc điểm của chính họ là cuộc sống sinh hoạt và lao động phần lớn gắn với hoạt động nông nghiệp có tính mùa vụ cao, đa dạng về đối tượng tài trợ, chi phí giao dịch cao và rủi ro tín dụng cao.

Thứ nhất, tín dụng đối với các đối tượng chính sách có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với hoạt động nông nghiệp do đại bộ phận nhóm đối tượng này tập trung tại nông thôn với nghề nông là chính. Thu nhập từ sản xuất, buôn bán nông sản, gia cầm, gia súc… và tiền lương lao động làm thuê là hai bộ phận cấu thành quan trọng trong nguồn thu nhập của người nghèo và các đối tượng chính sách khác tại nông thôn. Do sản phẩm từ nông nghiệp có tính chất mùa vụ cao và các khoản thu từ lao động làm thuê không ổn định, nguồn thu nhập, nhu cầu chi tiêu và tất yếu là nhu cầu vay mượn của họ có mức độ biến động cao, khó dự báo. Đặc điểm này còn bị làm trầm trọng thêm do tình trạng mất mùa từ thiên tai, dịch bệnh hoặc những diễn biến bất lợi của giá cả hàng nông sản, gia cầm, gia súc thường xuyên xuất hiện trong khi mức độ sẵn có và khả năng tiếp cận các sản phẩm phòng ngừa rủi ro của nhóm đối tượng này tại nông thôn là rất hạn chế.

Thứ hai, tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác có đặc điểm là khá đa dạng về đối tượng được tài trợ vốn do họ cần được hỗ trợ về nhiều mặt để có thể vươn lên thoát nghèo. Nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác phụ thuộc nhiều vào đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp (và các nghề thủ công khác). Các khách hàng khác nhau có các nhu cầu tài trợ khác nhau như cải tạo công trình vệ sinh môi trường, chữa bệnh, đi học nghề, đi xuất khẩu lao động cho tới nhu cầu mua vật nuôi, mua cây giống, mua vật tư sản xuất… Ngoài chi cho hoạt động sản xuất, nhu cầu chi tiêu của người nghèo và các đối tượng chính sách khác còn bao gồm các khoản đột xuất như ốm đau và đối phó với thiên tai dịch bệnh. Đây không phải là các khoản cho vay truyền thống của ngân hàng nhưng lại rất cần thiết đối với các đối tượng chính sách do nhóm đối tượng này thường dễ bị tổn thương bởi các tác nhân bên ngoài và khả năng tự chống chọi của họ với các tổn thương kể trên là rất thấp.

Thứ ba, chi phí của việc cấp tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách ở mức cao so với cho vay các đối tượng khác. Điều này là do giá trị các khoản tín dụng thường nhỏ, quay vòng nhiều cộng thêm với đặc điểm nhóm đối tượng này nằm phân tán trên một địa bàn rộng, tập trung nhiều ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa nên việc quản lý khoản tín dụng trở nên rất tốn kém, đòi hỏi TCTD phải có một số lượng nhân viên đủ lớn và dành nhiều nguồn lực tài chính, thời gian để tìm kiếm khách hàng, làm việc với khách hàng để thẩm định phương án vay vốn cho tới công tác giám sát sử dụng vốn vay. Số lượng khoản tín dụng lớn, sự đa dạng của nhu cầu tín dụng, địa bàn rộng buộc TCTD phải đánh đổi giữa việc giảm thiểu chi phí quản lý tín dụng và bảo đảm chất lượng tín dụng.

Thứ tư, cơ sở dữ liệu về người nghèo và các khoản tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác thường thiếu hụt và yếu kém cả về số lượng lẫn chất lượng. Khả năng tiếp cận với các dịch vụ tài chính như tiền gửi, thanh toán của nhóm đối tượng này là rất hạn chế xuất phát từ bản thân nhu cầu và trình độ học vấn của họ cũng như mức độ đáp ứng các dịch vụ tài chính của TCTD tại khu vực nông thôn thường thấp. Tương tự, các thông tin về năng lực pháp lý và tài chính của họ cũng rất khó để thu thập và xác minh do cơ sở dữ liệu tại các địa phương (đặc biệt là tại các vùng hẻo lánh) thường không được lưu trữ đầy đủ và chính xác như các đối tượng khách hàng doanh nghiệp được đăng ký với cơ quan quản lý của nhà nước. Do vậy, tình trạng thông tin bất cân xứng cao hơn so với các đối tượng khách hàng khác của ngân hàng.

Thứ năm, trình độ quản lý tài chính của người nghèo và các đối tượng chính sách khác không cao nên việc sử dụng vốn vay sao cho hiệu quả không phải lúc nào cũng đạt được. Sự thiếu hiểu biết và không được đào tạo về quản lý tài chính với số tiền vay được từ TCTD là nguyên nhân dẫn tới việc nhóm đối tượng có thể không sử dụng số vốn vay được vào đúng mục đích sử dụng vốn ban đầu, hoặc không sử dụng kịp thời khiến cho số vốn vay không được phân bổ phù hợp giữa các đối tượng cần chi tiêu khác nhau (ví dụ, thay vì giữ một phần vốn vay cho mục đích tài trợ

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN TOÀN BỘ BÀI VIẾT XIN QUÝ KHÁC LIÊN HỆ

Web: http://chuyenvietthueluanvan.com/

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline, ZALO: 0926.708.666

Leave Comments

0926708666
0926708666