BÁO ĐẢNG ĐỊA PHƯƠNG VỚI VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO              HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

 

BÁO ĐẢNG ĐỊA PHƯƠNG VỚI VIỆC GIỮ GÌN PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

 

LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI – 2017

 

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là một nhiệm vụ then chốt trong Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020. Trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, giao lưu tiếp biến văn hóa mạnh mẽ như giai đoạn hiện nay, vấn đề giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc đang đứng trước nhiều thách thức, đòi hỏi phải có sự vào cuộc tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị, trong đó đóng vai trò quan trọng là các cơ quan báo chí, truyền thông.

Theo báo cáo tổng kết năm 2016 của Bộ Thông tin – Truyền thông, tính đến tháng 12/2015, cả nước có 845 cơ quan báo chí in với 1.111 ấn phẩm, trong đó các cơ quan Trung ương có 86 báo, 507 tạp chí; địa phương có 113 báo, 132 tạp chí; có 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Về phát thanh truyền hình, cả nước hiện có 67 đài phát thanh truyền hình Trung ương và địa phương, trong đó có hai đài quốc gia, một đài truyền hình kỹ thuật số, 64 đài PT-TH cấp tỉnh. Đài Tiếng nói Việt Nam đã phủ sóng hơn 99% diện tích lãnh thổ và phủ sóng qua vệ tinh đến nhiều nước trên thế giới. Đài Truyền hình Việt Nam phủ sóng đến hơn 90% số hộ gia đình ở trong nước và phủ sóng qua vệ tinh đến nhiều khu vực ở ngoài nước. Các phương tiện thông tin đại chúng đã đóng góp quan trọng vào công tác thông tin tuyên truyền, khẳng định và bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; tham gia thông tin, quảng bá nhằm xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam…góp phần tích cực vào các thành tựu chung của đất nước.

Báo đảng địa phương là bộ phận quan trọng trong hệ thống báo chí Việt Nam, là cơ quan ngôn luận của đảng bộ, chính quyền địa phương, là cầu nối thông tin giữa Đảng, chính quyền với nhân dân địa phương, diễn đàn của

 

 

 

người dân. Với vị thế đó, báo đảng địa phương có đối tượng công chúng rộng rãi, là toàn thể cán bộ, đảng viên, người dân địa phương. Ngoài ra, báo đảng địa phương có ưu thế so với báo chí ở Trung ương trong việc nắm bắt điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, địa lý, các phong tục, tập quán của nhân dân địa phương, do đó, có khả năng chuyển tải thông tin phù hợp với nhu cầu và tâm lý của người dân địa phương. Chính vì vậy, báo đảng địa phương có khả năng tác động mạnh và có hiệu quả vào tư tưởng, tình cảm của người dân, cổ vũ, động viên kịp thời các gương điển hình tiên tiến trong các lĩnh vực của đời sống, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, về cơ bản, báo đảng địa phương đã góp phần quan trọng vào giữ gìn, quảng bá, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Nhiều BĐĐP đã có chương trình hành động cụ thể, bám sát tình hình xây dựng và phát triển văn hóa của địa phương, mở rộng nội dung về giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá, cổ vũ, khẳng định những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa địa phương; qua đó, góp phần xây dựng đời sống tinh thần, tình cảm tốt đẹp trong cộng đồng dân cư, trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị của địa phương, giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của địa phương nói riêng, của đất nước nói chung.

Tuy nhiên, văn hóa là lĩnh vực rộng lớn, bao trùm và ẩn chứa trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do vậy, việc nắm bắt, hiểu được bản chất và chuyển tải thông tin một cách chính xác, kịp thời các vấn đề văn hóa, đặc biệt là những nội dung về giá trị văn hóa truyền thống là không đơn giản, không chỉ đối với những phóng viên của báo đảng địa phương. Một số báo chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ và toàn diện về vai trò, vị trí của GTVHTT trong đời sống văn hóa – xã hội của cộng đồng. Nhiều bài viết trên BĐĐP còn hời hợt, hình thức, thiếu tính hấp dẫn, thuyết phục, chưa đáp ứng được yêu cầu,

 

 

 

nhu cầu của công chúng; thậm chí, một số bài còn phản ánh không đúng với mục đích, yêu cầu, nội dung và nhiệm vụ giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống và văn hóa dân tộc; chưa coi trọng biểu dương, nhân rộng gương điển hình tiên tiến, những nhân tố tích cực trong học tập, lao động sản xuất, chiến đấu; xây dựng khối đại đoàn kết tại địa phương. Hiện tượng đưa những thông tin giật gân, vi phạm thuần phong mỹ tục, xem nhẹ quá trình thẩm định nguồn tin, thông tin không đúng sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân, đến vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ, chính quyền địa phương. Tính chuyên nghiệp, tính chiến đấu của đội ngũ phóng viên, biên tập viên trên mặt trận bảo vệ, giữ gìn và phát huy những GTVHTT, thực hiện chức năng nhiệm vụ của BĐĐP còn nhiều hạn chế… Đây là những rào cản ảnh hưởng đến sức hấp dẫn và hiệu quả tác động của tờ báo đối với công chúng, làm giảm vai trò định hướng của BĐĐP trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương…

Để góp phần tổng kết, đánh giá, rút ra những kinh nghiệm và giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giữ gìn và phát huy những GTVHTT của BĐĐP, bồi đắp nền tảng tinh thần, động lực và mục tiêu cho quá trình xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đóng góp cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các chuẩn mực giá trị văn hóa thời kỳ CNH, HĐH và HNQT, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, tác giả luận án lựa chọn đề tài “Báo đảng địa phương với việc giữ gìn phát huy những giá trị văn hóa truyền thống” để làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học.

2.   Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1.   Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng khung lý thuyết về vấn đề BĐĐP giữ gìn, phát huy những GTVHTT, trên cơ sở đó khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của BĐĐP hiện nay; đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị khoa học nhằm phát huy vai trò của BĐĐP với việc giữ gìn, phát huy GTVHTT thời kỳ CNH, HĐH và HNQT.

 

 

 

2.2.   Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, tác giả luận án thực hiện một số nhiệm vụ sau:

  • Hệ thống hóa, làm rõ một số vấn đề lý luận và bước đầu hình thành khung lý thuyết vấn đề BĐĐP giữ gìn và phát huy những GTVHTT trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
  • Khảo sát và phân tích thực trạng vấn đề BĐĐP giữ gìn và phát huy những GTVHTT trong thời gian khảo sát; phác thảo bức trtanh tổng quát về vấn đề này. Qua đó đánh giá những thành công, hạn chế của BĐĐP trong vấn đề giữ gìn và phát huy những
  • Từ thực tiễn và những vấn đề đặt ra, LA đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị khoa học nhằm nâng cao chất lượng giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của BĐĐP thời kỳ CNH, HĐH và HNQT, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

3.   Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.   Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề báo đảng địa phương giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống.

3.2.   Phạm vi nghiên cứu và đối tượng khảo sát

  • Hiện cả nước có 63 BĐĐP ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, do hạn chế về nhiều mặt, tác giả luận án nghiên cứu trường hợp trong vùng văn hóa phía Bắc, tập trung khảo sát các BĐĐP (báo in) một số tỉnh phía Bắc trong 3 năm, từ 2010 – 2012 bao gồm:

+ Báo Thái Nguyên – có thể đại diện cho vùng trung du, miền núi;

+ Báo Hà Nội mới, có thể đại diện cho đô thị lớn;

+ Báo Bắc Ninh, có thể đại diện cho vùng đồng bằng Bắc Bộ;

+ Báo Hải Phòng, đại diện cho đô thị vừa và ven biển, hải cảng.

Sự lựa chọn của tác giả về phạm vi và thời gian khảo sát trên bởi các lý do sau:

Thứ nhất, 03 năm 2010-2012 là thời điểm chuẩn bị cho Đại hội XI và triển khai nghị quyết Đại hội XI của Đảng, hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết

 

 

 

Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới. Cũng trong giai đoạn này, nhiều giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của Hà Nội, Bắc Ninh đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới; nhiều tài liệu, tư liệu về bản sắc văn hóa dân tộc, về vai trò, nhiệm vụ của báo chí giữ gìn, phát huy văn hóa truyền thống; nhiều bài viết về bảo tồn, giữ gìn, phát huy những GTVHTT trên BĐĐP được khảo sát…để NCS có thể tham khảo, sử dụng cho đề tài nghiên cứu của mình. Mặt khác, đây cũng là thời gian nghiên cứu viết luận án của nghiên cứu sinh.

Thứ hai, bốn tỉnh, thành phố trên đại diện cho bốn khu vực: Báo Hà Nội mới là tờ báo của Thủ đô Hà Nội nghìn năm văn hiến; báo Bắc Ninh đại diện cho địa phương mang những đặc trưng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ; Báo Hải Phòng đại diện cho địa phương mang những đặc trưng văn hóa biển, ven biển và báo Thái Nguyên, đại diện cho địa phương có những đặc trưng văn hóa trung du, miền núi. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng,…trong đó mỗi vùng, miền, địa phương có những đặc điểm văn hóa riêng. Lựa chọn khảo sát đại diện BĐĐP của các vùng, miền khác nhau giúp tác giả có sự so sánh, đánh giá một cách khách quan những điểm tương đồng và khác biệt trong thực thi những nhiệm vụ chung.

Những BĐĐP trên đều có bề dày phát triển, có số lượng phát hành lớn trong hệ thống BĐĐP khu vực phía bắc và có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đối với độc giả địa phương. Ở những địa phương này, nhiều GTVHTT được giữ gìn và lưu truyền tương đối nguyên vẹn, có tầm ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội cũng như trong xây dựng văn hóa, con người. Với những GTVHTT phong phú, báo đảng các tỉnh, thành phố Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Nguyên có nguồn thông tin, tư liệu dồi dào để tác nghiệp, qua đó phát hiện và chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

Thứ ba, BĐĐP hoạt động theo Luật Báo chí, trong đó Nhà nước thống nhất quản lý (về tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, phạm vi phát hành, thể thức…) và Quyết định 338-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan báo chí của đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. GTVHTT của dân tộc là cái chung phổ biến. Giữ gìn và phát huy những GTVHTT là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng, trong đó không thể không nói đến vị thế của BĐĐP. Các BĐĐP đều có một số điểm chung cơ bản như trên, nên việc khoanh vùng đối tượng khảo sát không làm giảm tính khái quát của luận án.

4.   Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1.   Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện dựa trên những cơ sở lý luận sau đây:

  • Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về bản chất, vài trò, chức năng, nhiệm vụ, các nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng; về bản chất, chức năng, quy luật vận động và phát triển của văn hóa, về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay trước yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
  • Lý thuyết báo chí truyền thông về bản chất hoạt động của báo chí truyền thông, cơ chế tác động, các chức năng xã hội của báo chí truyền thông [41]; vai trò xã hội của nhà báo. Các lý thuyết nghiên cứu văn hóa truyền thông: nghiên cứu văn hóa; lý thuyết xã hội học (hệ thống cấu trúc – chức năng); lý thuyết tâm lý học… nhằm phân tích, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò, nội dung, hình thức thông .. của BĐĐP, cơ sở khoa học để khảo sát thực trạng BĐĐP giữ gìn, phát huy những GTVHTT thời gian qua.

Lý thuyết Truyền thông phát triển hay Truyền thông vì sự phát triển bền vững. Phát triển bền vững là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh xã hội. Truyền thông phát triển có vai trò, trách nhiệm xã hội quan trọng trong việc giáo dục,động viên, nâng cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm xã hội, nâng cao kiến thức, nhận thức, thái độ của nhân dân để thúc đẩy phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường, giữ gìn, giáo dục truyền thống và kích thích sự sáng tạo giá trị văn hóa mới.

Lý thuyết truyền thông chuyên biệt đề cập đến xu hướng phi đại chúng hóa của truyền thông đại chúng hay xu hướng khu biệt phạm vi nội dung thông tin, kênh truyền hình/ phát thanh hoặc nội dung chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó dành riêng cho một nhóm công chúng (phân chia theo đặc điểm với tiêu chí về lứa tuổi, giới tính, khu vực).

  • Lý luận văn hóa Việt Nam: lịch sử hình thành và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam để tìm hiểu các đặc trưng cơ bản thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam – cơ sở để phân tích vai trò của BĐĐP giữ gìn phát huy GTVHTT trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

4.2.   Phương pháp nghiên cứu

  • Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin: Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử như phương pháp logic và lịch sử, cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả…các quan điểm: khách quan, toàn diện, lịch sử – cụ thể, phát triển, thực tiễn, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội…
  • Các phương pháp tiếp cận của báo chí học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học…

Phương pháp tiếp cận xã hội học – tiếp cận hệ thống cấu trúc, chức năng của văn hóa nhằm tạo nên sự ổn định của hệ thống trong quá trình vận động và phát triển. Vận dụng nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của BĐĐP.

Phương pháp tiếp cận tâm lý học để tìm hiểu hoạt động sáng tạo của nhà báo và tâm lý tiếp nhận của công chúng với các yếu tố: nhu cầu, động cơ, mục đích, nội dung, phương thức, phương tiện tiếp nhận…Nắm vững và thấu hiểu yếu tố tâm lý học của công chúng, BĐĐP mới có thể sáng tạo những tác phẩm báo chí về GTVHTT thỏa mãn như cầu của công chúng.

Phương pháp phân tích tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu, văn kiện, nghị quyết, pháp luật có liên quan của Đảng và Nhà nước, các giáo trình, sách, các bài nghiên cứu trên các tạp chí nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho BĐĐP thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về văn hóa, về giữ gìn và phát huy những GTVHTT. Qua nghiên cứu các văn kiện, tài liệu trên, tác giả vận dụng những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước, kế thừa những kết quả đã được nghiên cứu, góp phần làm cho luận án sâu sắc hơn, đồng thời là cơ sở khoa học để nhận định, đánh giá các kết quả nghiên cứu, khảo sát nhằm tìm ra những giải pháp, kết luận khoa học cho đề tài nghiên cứu, từ đó khẳng định những đóng góp mới của luận án.

– Phương pháp phân tích nội dung: dùng để phân tích nội dung các tác phẩm báo chí được đăng tải trên BĐĐP liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án. Dựa trên 07 tiêu chí nội dung về giá trị văn hóa truyền thông trên báo đảng địa phương được khái quát trong Chương 1, tác giả đã khảo sát 100% số trang báo của 04 tờ báo trong 03 năm và chọn ra được 1520 tin, bài có chủ đề liên quan. Phương pháp phân tích nội dung còn dùng để phân tích những câu trả lời thu được qua trưng cầu ý kiến, phỏng vấn sâu. Kết quả phân tích nội dung giúp tác giả khái quát được những ưu điểm, hạn chế và góp phần làm căn cứ để đưa ra những kiến nghị khoa học nhằm nâng cao chất lượng BĐĐP giữ gìn và phát huy những GTVHTT.

Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi anket: Mục đích sử dụng phương pháp này nhằm thu nhận các ý kiến nhận xét, đánh giá của công chúng BĐĐP và cán bộ, phóng viên, các nhà lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí. Nghiên cứu sinh đã tiến hành trưng cầu ý kiến với hai loại đối tượng sau:

Một là, công chúng báo đảng ở các địa phương tại 04 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng (với 400 phiếu, mỗi tỉnh, thành phố 100 phiếu), theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Các nội dung trưng cầu ý kiến của công chúng liên quan đến hình thức tiếp cận BĐĐP, tầnsuất tiếp cận, mức độ quan tâm, thái độ và hành vi sau tiếp cận thông tin về GTVHTT… trên BĐĐP

Hai là, cán bộ, phóng viên, các nhà lãnh đạo, quản lý, của những báo trong diện khảo sát nhằm thu thập ý kiến về thực trạng, những ưu, nhược điểm về nội dung thông tin, hình thức thể hiện của BĐĐP về vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống (với tổng số 200 phiếu)

Trong phương pháp này, tác giả sử dụng phần mềm xử lý thông tin định lượng SPSS nên kết quả thu được là đáng tin cậy.

  • Phương pháp thu thập ý kiến chuyên gia được thực hiện để thu thập những ý kiến nhận xét, đánh giá chuyên sâu của các nhà khoa học chuyên ngành (trực tiếp hoặc gián tiếp) nhằm làm sâu sắc thêm lý luận và thực tiễn của đề tài.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu. Tác giả đã tiến hành phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan báo chí trong và ngoài diện khảo sát vào tháng 10 năm 2012 (tác giả đã tiến hành phỏng vấn Phó Tổng biên tập báo Hà Nội mới, bà Mai Kim Thoa; Tổng biên tập báo Bắc Ninh, ông Nguyễn Bá Sinh; Tổng biên tập báo Hải Phòng, ông Lê Trọng Nghĩa; Tổng biên tập báo Thái Nguyên, bà Đỗ Thị Thìn), phóng viên về những vấn đề liên quan để thu thập thông tin định tính, cơ bản, có hệ thống và chiều sâu nhằm đánh giá ưu điểm, nhược điểm, xác định giải pháp, nâng cao chất lượng thông tin giữ gìn phát huy GTVHTT của BĐĐP.

5.   Đóng góp mới của luận án

  • Luận án là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về BĐĐP giữ gìn, phát huy những

Trong luận án, nhiệm vụ giữ gìn và phát huy những GTVHTT của BĐĐP được nhìn nhận, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống, nhiều góc độ khác nhau, qua đó làm rõ thực trạng, bao gồm những thành công, hạn chế của BĐĐP trong hoạt động giữ gìn, phát huy những GTVHTT. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng BĐĐP giữ gìn và phát huy những GTVHTT thời kỳ CNH, HĐH và HNQT.

– Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định sức mạnh, hiệu quả của hệ thống BĐĐP trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị theo tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định vị thế của BĐĐP trong bảo vệ, gìn giữ, phát huy những GTVHTT.

6.   Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1.   Ý nghĩa lý luận

  • Luận án xây dựng khung lý thuyết về vấn đề BĐĐP giữ gìn và phát huy GTVHTT, làm cơ sở khoa học cho khảo sát thực trạng BĐĐP giữ gìn, phát huy GTVHTT, góp phần định hướng hoạt động của BĐĐP trong giữ gìn, phát huy GTVHTT giai đoạn hiện

Lý luận về BĐĐP giữ gìn và phát huy những GTVHTT đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy cao bởi sự nghiên cứu nghiêm túc, có trách nhiệm về thực trạng nội dung thông tin, hình thức thể hiện và sự đánh giá khách quan của công chúng BĐĐP.

  • Luận án có đóng góp, bổ sung nhất định vào việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong điều kiện mới, xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước, xây dựng các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH và

6.2.   Ý nghĩa thực tiễn

  • Nội dung nghiên của luận án là tư liệu tham khảo cho công tác lãnh đạo của cấp ủy, chỉ đạo của chính quyền, sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành với BĐĐP; đặc biệt là các BĐĐP được khảo sát để đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trong lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp nhằm giữ gìn, phát huy những
  • Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của đội ngũ phóng viên, biên tập viên (PV, BTV) báo đảng địa phương, những người đang trực tiếp sáng tạo các tác phẩm báo chí về đề tài văn hóa truyền thống. Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng BĐĐP về giữ gìn,phát huy những GTVHTT, xây dựng hệ thống BĐĐP ở nước ta ngày càng phát triển vững mạnh, hiện đại.
  • Luận án cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho quá trình học tập, nghiên cứu và giảng dạy đối với sinh viên các chuyên ngành báo chí, cho các học viên cao học, nghiên cứu sinh và những ai quan tâm đến vấn đề này.

7.   Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết thứ nhất: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa và sự bùng nổ các phương tiện truyền thông mạng xã hội, hệ thống BĐĐP vẫn đang phát huy những ưu thế và khẳng định vai trò của mình trong công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, xây dựng văn hóa, con người ở địa phương.
  • Giả thuyết thứ hai: Phản ánh sự nghiệp đổi mới về văn hóa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, hệ thống BĐĐP ở nước ta đã có những đóng góp quan trọng vào xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng bộ, chính quyền phương lãnh đạo, chỉ đạo tốt, có hiệu quả BĐĐP nhằm đem lại những thành tựu trên lĩnh vực văn hóa, giữ gìn và phát huy những GTVHTT tương xứng với những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị…
  • Giả thuyết thứ ba: Xây dựng và phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy những GTVHTT trong điều kiện CNH, HĐH, phát triển KTTT và HNQT, báo đảng địa phương đã và đang bộc lộ những thiếu sót, nhược điểm, đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách hệ thống, đề xuất những giải pháp có tính khả thi để báo đảng địa phương nâng cao chất lượng giữ gìn và phát huy những GTVHTT, góp phần xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt

8.   Bố cục của luận án

Ngoài các phần Mở đầu, Tổng quan nghiên cứu, Kết luận Tài liệu tham khảo, Phụ lục, những nội dung chính của luận án được bố trí trong 3 chương, 12 tiết.

 

 

 

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Vấn đề truyền thông văn hóa, báo chí với văn hóa, bản sắc và giá trị văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, quốc gia… liên quan đến đề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu dành thời gian, công sức, tâm huyết, thể hiện dưới những hình thức khác nhau như các sách chuyên khảo, các đề tài khoa học; các công tình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, bộ, ngành, các hội thảo khoa học từ Trung ương đến địa phương, các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu sâu, trực tiếp, toàn diện về BĐĐP giữ gìn và phát huy những GTVHTT. Để xây dựng khung lý thuyết cho đề tài, NCS đã nghiên cứu, tiếp cận các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về báo chí, văn hóa, các công trình nghiên cứu và các tài liệu cơ bản sau:

1.    Những công trình, tài liệu định hướng nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ, vai trò, nội dung, hình thức, của báo đảng địa phương

Đối với chuyên ngành báo chí, có thể kể đến Cơ sở lý luận báo chí [166], [41]; Cơ sở lý luận báo chí truyền thông [135]; Giáo trình cơ sở lý luận báo chí [68]; Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng cơ bản [42]…, Tác phẩm chính luận báo chí [118]. Đây là những cuốn sách đóng vai trò cơ sở lý luận, phương pháp luận của báo chí khi nghiên cứu về BĐĐP – cơ quan ngôn luận của đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và vận dụng vào quá trình nghiên cứu vấn đề BĐĐP giữ gìn, phát huy những GTVHTT.

Xem xét dưới góc độ thực hiện chức năng văn hóa, để thực hiện tốt chức năng này, báo chí cần phải: “tích cực tham gia bảo tồn hệ thống giá trị văn hoá” nhằm “cổ vũ, khích lệ năng lực sáng tạo giá trị mới, truyền bá, nhân rộng nhân tố mới, động viên tính tích cực của con người… phê phán các thói hư tật xấu, các biểu hiện bảo thủ, trì trệ, đấu tranh chống các hiện

 

 

 

tượng phi văn hoá… giao lưu văn hoá với các dân tộc, cộng đồng trên thế giới” [41, tr.194].

Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động báo chí ở nước ta từ sau đổi mới đến nay là nội dung của cuốn sách Những vấn đề của báo chí hiện đại [24]. Xuất phát từ những vấn đề lý luận báo chí như: sự hình thành tư tưởng triết học gắn với hoạt động báo chí của C.Mác; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý báo chí; về một nền báo chí trong cơ chế thị trường… Các tác giả phân tích tính thực tiễn của hoạt động báo chí nước ta hiện nay như: Những bài học từ di sản truyện, ký và tiểu phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; Nhận diện hệ thống thể loại báo chí ở nước ta… Nghiên cứu BĐĐP giữ gìn và phát huy GTVHTT trong giai đoạn hiện nay không thể tách rời việc xem xét các hoạt động của báo đảng trong bối cảnh và tình hình mới. Nội dung của cuốn sách Những vấn đề của báo chí hiện đại là sách tham khảo quan trọng đối với quá trình thực hiện luận án.

Cuốn hội học báo chí của Trần Hữu Quang [125] trình bày những nội dung tiếp cận xã hội đối với các quá trình truyền thông, đối với nghề làm báo và hoạt động của nhà báo; những quan điểm và những phương pháp phân tích xã hội học về công chúng truyền thông và nội dung truyền thông, các tác động xã hội của truyền thông đại chúng…Thông qua các kênh thông tin này mà các giá trị xã hội, các quy tắc, luật lệ thành văn cũng như bất thành văn của xã hội được phổ biến. Truyền thông đại chúng là phương tiện có khả năng làm cho xã hội trở nên đoàn kết, gắn bó nhau, hội nhập cá nhân vào xã hội, góp phần giải quyết những vấn đề lớn của xã hội. Nội dung cuốn sách là tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận xã hội học đối với BĐĐP.

Sách chuyên khảo Báo chí và thông tin đối ngoại [12] nhằm cung cấp lý luận chung về công tác đối ngoại và thông tin đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, các tác giả còn giúp độc giả phân biệt các thể loại báo chí, đánh giá vai trò của báo chí đối với thông tin đối ngoại, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới. Mặc dù nội dung của cuốn sách hướng tới độc giả chuyên ngành ngoại giao, văn hoá đối ngoại song rất có ý nghĩa với Luận án khi đề xuất vấn đề “chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” để làm phong phú thêm những GTVHTT.

Góp phần làm rõ bản chất của mối quan hệ giữa báo chí và dư luận xã hội, tác giả Nguyễn Văn Dững đã cho ra mắt độc giả cuốn Báo chí và dư luận xã hội [40]. Nội dung của cuốn sách đã chỉ ra rằng: báo chí là nhân tố cơ bản khơi nguồn DLXH, phản ánh, truyền dẫn DLXH, định hướng DLXH và điều hoà DLXH. Với đề tài luận án: Báo đảng địa phương với việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, tác giả đã tham khảo được nhiều thông tin bổ ích từ “Báo chí và dư luận xã hội”. Đó là việc đánh giá, ứng xử của nhà báo với dư luận xã hội, mà ở đề tài Luận án là sự phản hồi của công

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN TOÀN BỘ BÀI VIẾT XIN QUÝ KHÁC LIÊN HỆ

Web: http://chuyenvietthueluanvan.com/

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline, ZALO: 0926.708.666

Leave Comments

0926708666
0926708666