Các giải pháp chủ yếu nhằmtăng cường quản trị vốn kinh doanh tại Công ty TNHH Tậpđoàn Hoàng Phát Vissai

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

—o0o—

 

Các giải pháp chủ yếu nhằmtăng cường quản trị vốn kinh doanh tại Công ty TNHH Tậpđoàn Hoàng Phát Vissai

                 Chuyên ngành            : Quản trị kinh doanh 

 

HÀ NỘI 2018

 

MỞ ĐẦU

  1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước hết phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của doanh nghiệp. Vốn tồn tại ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất và chu chuyển liên tục tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để phát triển thì không những doanh nghiệp phải đảm bảo được nguồn vốn đã bỏ ra mà phải phát triển được vốn đó. Vấn đề đặt ra ở đây là đứng trước mỗi quyết định đầu tư, mỗi doanh nghiệp sẽ phải xác định nhu cầu vốn như thế nào, tiến hành huy động vốn ở đâu, bao nhiêu? Huy động được rồi thì phải sử dụng như thế nào để không những bảo toàn được vốn mà còn phải sử dụng tối đa để tạo ra lợi nhận cho sự phát triển ổn định, lâu dài của công ty. Quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng làm phát sinh rất nhiều chi phí, ảnh hưởng đến giá thành, quyết định trực tiếp tới lợi nhuận cuối cùng của công ty. Thực tế cho thấy rằng không chỉ ở nước ta mà còn nhiều nước trên thế giới, tình trạng sử dụng vốn lãng phí kém hiệu quả đang diễn ra rất phổ biến.Việc tổ chức và sử dụng vốn không hiệu quả sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong quá trình từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển mở ra những cơ hội và thách thức lớn cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp muốn tồn tại phải có những chiến lược kinh doanh phù hợp, ứng xử một cách linh hoạt. Xuất phát từ những yêu cầu, đòi hỏi và quy luật “đào thải” của nền kinh tế thị trường, các nhà quản trị phải biết tối đa hóa lợi nhuận và sử dụng chi phí hợp lý sao cho đạt được hiệu quả cao nhất. Việc theo dõi sự biến động vốn cũng là một trong những công việc cần thiết cho việc phân tích để đưa ra những quyết định sản xuất kinh doanh hiệu quả. Quản lý vốn trong doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Nó giúp cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho tình hình tài chính của doanh nghiệp luôn ổn định và lành mạnh. Do vậy, nhiệm vụ đặt ra cho các doanh nghiệp là phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính tín dụng và chấp hành luật pháp. Đó cũng đang là một bài toán khó đối với các doanh nghiệp hiện nay.

Công ty TNHH Tập đoàn Hoàng Phát Vissai là một công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất. Mục tiêu hàng đầu của công ty là nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận, đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nước. Song việc nâng cao hiệu quả kinh doanh lại luôn gắn liền với tăng cường quản trị đồng vốn. Bởi vậy, vấn đề tăng cường quản trị vốn kinh doanh đang được đặt lên hàng đầu.

Với vai trò đặc biệt quan trọng của vốn kinh doanh cũng như qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH Tập đoàn Hoàng Phát Vissai, được sự hướng dẫn tận tình của PGS, TS, NGƯT Vũ Công Ty cùng các thầy cô giáo trong khoa TCDN và tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty, em đã đi sâu nghiên cứu tình hình tổ chức, quản lý và sử dụng vốn của công ty và xin mạnh dạn chọn đề tài Các giải pháp chủ yếu nhằmtăng cường quản trị vốn kinh doanh tại Công ty TNHH Tậpđoàn Hoàng Phát Vissailàm đề tài cho luận văn cuối khóa của mình với hy vọng qua đó tích lũy được thêm kinh nghiệm thực tế cho bản thân và mạnh dạn đưa ra một số ý kiến đóng góp giúp cho công việc hoàn thiện công tác tổ chức, quản lý và sử dụng vốn tại công ty.

  1. Đối tượng và mục đích nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tổ chức, sử dụng và quản lý vốn kinh doanh ở công ty TNHH tập đoàn Hoàng Phát Vissai.

– Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về vốn kinh doanh của Công ty TNHH tập đoàn Hoàng Phát Vissai, phân tích công tác quản trị vốn kinh doanh, thấy được thành tựu cũng như những  hạn chế còn tồn tại trong công tác sử dụng vốn kinh doanh, từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường quản trị vốn.

  1. Phạm vi nghiên cứu

+ Không gian: Công ty TNHH tập đoàn Hoàng Phát Vissai.

+ Thời gian: Số liệu được sử dụng chủ yếu liên quan đến tình hình tài chính và tình hình hoạt động của công ty trong 2 năm 2014, 2015 như: bản cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính

  1. Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng các kiến thức đã học trong trường kết hợp với quan sát thực tiễn tại công ty kết hợp với các phương pháp sau:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: thu thập số liệu thông qua những hồ sơ lưu trữ của công ty trong những năm gần đây bao gồm: báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh của công ty…Bên cạnh đó em còn thu thập thông tin, số liệu trên các trang web và tào liệu tham khảo có liên quan.
  • Phương pháp phân tích: dựa trên số liệu thu thập được em tiến hành xử lý, phân tích theo mục đích yêu cầu của đề tài để có số liệu phù hợp.
  • Phương pháp so sánh: dựa trên số liệu đã xử lý em tiến hành so sánh số liệu thực tiễn giữa các năm từ đó đánh giá những gì đạt và chưa đạt.
  1. Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương1: Lý luận chung về vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại Công ty TNHH tập đoàn Hoàng Phát Vissai.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị vốn kinh doanh của Công ty TNHH tập đoàn Hoàng Phát Vissai.

 

 

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

  • VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
    • Khái niệm, đặc trưng, vai trò và thành phần vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
  • Khái niệm vốn kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có ba yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này, doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Lượng vốn đó được gọi là vốn kinh doanh (VKD) của doanh nghiệp.

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.

VKD là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp và là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.

  • Đặc trưng của vốn kinh doanh

Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VKD đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức đúng đắn các đặc trưng của vốn. Sau đây là những đặc trưng chủ yếu của VKD:

Một là, vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định.

Vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị…

Hai là, vốn phải được vận động để sinh lời.

Đặc trưng này của vốn xuất phát từ nguyên tắc: tiền tệ chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào sản xuất kinh doanh. Trong quá trình vận động, giá trị vốn tại thời điểm kết thúc lớn hơn  điểm khởi đầu, tức là kinh doanh có lãi. Điều này đòi hỏi trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp không được để vốn bị ứ đọng.

Ba là, vốn có giá trị về mặt thời gian.

Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lạm phát, giá cả thay đổi, tiến bộ khoa học công nghệ không ngừng nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau lại khác nhau. Vì vậy, huy động vốn và sử dụng vốn kịp thời là điều hết sức quan trọng.

Bốn là, vốn phải tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng trong hoạt động kinh doanh.

Đặc trưng này đòi hỏi doanh nghiệp cần lập kế hoạch để huy động đủ lượng vốn cần thiết và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tư lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Năm là, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.

Vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn là biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình. Đặc trưng này giúp doanh nghiệp có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ đó đề xuất các biện pháp phát huy hiệu quả tổng hợp VKD.

Sáu là, vốn phải gắn với chủ sở hữu.

Vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế tri thức nên không thể có đồng vốn vô chủ.Vốn phải được gắn với chủ sở hữu thì mới được chi tiêu hợp lí và có hiệu quả. Tuỳ từng hình thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể đồng nhất hoặc tách rời người sử dụng vốn.

Bảy là, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt.

Giống như các loại hàng hoá khác, “hàng hoá vốn” cũng được mua bán trên thị trường. Tuy nhiên, người ta chỉ mua được quyền sử dụng vốn mà không mua được quyền sở hữu. Người mua (người vay vốn) phải trả cho người bán (người cho vay) một tỷ lệ lãi suất nhất định – đó chính là giá của quyền sử dụng vốn.

  • Vai trò của vốn kinh doanh

Đối với một doanh nghiệp, vốn có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

  • VKD là cơ sở để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng là chỉ tiêu đánh giá kết quả các hoạt động sản xuất kinh doanh đó.
  • Là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Điều này càng thể hiện rõ khi thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, hiện đại hóa công nghệ… tất cả những yếu tố này muốn đạt được đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định.

Mặt khác, doanh nghiệp muốn mở rộng phạm vi hoạt động tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh vốn của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo vốn của doanh nghiệp có thể bảo toàn và phát triển.

Điều đó cho thấy vốn là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, thâm nhập thị trường, nâng cao uy tín trên thị trường.

Nhận thức được vai trò quan trọng như vậy doanh nghiệp cần hết sức thận trọng trong quá trình quản lý, sử dụng vốn, từ khâu huy động đến khâu sử dụng vốn.

1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh

1.1.2.1. Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn

Có thể chia VKD thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động.

  • Vốn cố định

Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của VKD. Việc làm tăng vốn cố định có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Nói cách khác, Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ

Những đặc điểm chu chuyển chủ yếu của VCĐ trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như sau:

  • Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ chu chuyển giá trị dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
  • VCĐ tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển.
  • VCĐ chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị, tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao TSCĐ.

Những đặc điểm luân chuyển của VCĐ đòi hỏi việc quản lý VCĐ phải kết hợp giữa quản lý theo giá trị và quản lý hình thái hiện vật của nó là các TSCĐ của doanh nghiệp.

  • Vốn lưu động

Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, bên cạnh các TSCĐ, doanh nghiệp cần phải có các TSLĐ. Để hình thành nên các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn tiền tệ nhất định. Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

Như vậy, “Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.”

VLĐ của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:

  • VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện.
  • VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kì kinh doanh.
  • VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.

1.1.2.2. Căn cứ vào thời gian sử dụng của vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.

  1. Vốn ngắn hạn

Vốn ngắn hạn của doanh nghiệp là vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong một thời gian dưới một năm. Vốn ngắn hạn bao gồm Nợ ngắn hạn.

  1. Vốn dài hạn

Vốn dài hạn của doanh nghiệp là vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong một thời gian dài hơn một năm. Vốn dài hạn bao gồm Vốn chủ sở hữu và Nợ dài hạn.

  • Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn

Dựa vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.

  • Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn do doanh nghiệp tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ khác của doanh nghiệp, nguồn vốn liên doanh, liên kết, vốn tài trợ của Nhà nước nếu có. Nguồn vốn chủ sở hữu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho chủ doanh nghiệp chủ động hoàn toàn trong sản xuất, thể hiện mức độ tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định như sau:

Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả

  • Nợ phải trả: là số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể khác nhưng doanh nghiệp được quyền sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Theo tính chất và thời hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp được chia thành:
  • Nợ ngắn hạn: là khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả trong một thời gian ngắn như: vay ngắn hạn, phải trả nhà cung cấp, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước…
  • Nợ dài hạn: là các khoản nợ mà trên một năm doanh nghiệp mới phải hoàn trả như: vay dài hạn, phát hành trái phiếu…

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp hoạt động, tuỳ thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp.

  • Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Căn cứ và tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.

HÌNH 1.1: PHÂN LOẠI NVKD THEO THỜI GIAN HUY ĐỘNG

VÀ SỬ DỤNG

  • Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguồn vốn thường xuyên=Vốn chủ sở hữu+Nợ dài hạn

Hoặc:Nguồn vốn thường xuyên=Giá trị tổng tài sản-Nợ ngắn hạn

  • Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nợ ngắn hạn khác.

Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng VKD.

  • Phân loại theo phạm vi huy động vốn
  • Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra. Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp.

Nguồn vốn bên trong bao gồm:

  • Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư
  • Khoản khấu hao tài sản cố định
  • Tiền nhượng bán tài sản, vật tư không cần dùng hoặc thanh lý TSCĐ
  • Nguồn vốn bên ngoài:

Việc huy động nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp để tăng thêm nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh, là vấn đề hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp.

Nguồn vốn từ bên ngoài bao gồm:

Vay người thân (đối với doanh nghiệp tư nhân).

  • Vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác.
  • Gọi góp vốn liên doanh liên kết.
  • Tín dụng thương mại của nhà cung cấp.
  • Thuê tài sản.
  • Huy động vốn bằng phát hành chứng khoán (đối với một số loại hình doanh nghiệp được pháp luật cho phép).
    • Nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp

. VKD của doanh nghiệp được hình thành từ 2 nguồn khác nhau: Nguồn vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả.

1.1.3.1. Nguồn vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm số vốn chủ doanh nghiệp bỏ ra cùng với phần vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh. Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm được xác định bởi công thức sau:

Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản – Nợ phải trả

Nguồn vốn chủ sở hữu trong nguồn VKD của doanh nghiệp được hình thành từ những nguồn sau:

+ Nguồn vốn đóng góp ban đầu của nhà đầu tư: Đó là lượng tiền tệ nhất định khi bắt đầu thành lập  một doanh nghiệp theo quy định của nhà nước và vốn vốn góp này cũng tăng trong quá trình sản xuất kinh doanh.

+ Nguồn vốn đóng góp bổ sung từ kết quả sản xuất kinh doanh . Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia giữ lại tái đầu tư. Lợi nhuận không chia thường để trích lập nên các quỹ trong doanh nghiệp như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi,…

+ Nguồn vốn đóng góp từ phát hành cổ phiếu: đối với một công ty cổ phần, vốn chủ sở hữu có thể tăng được bằng cách phát hành cổ phiếu mới.

+ Nguồn vốn chủ sở hữu khác: Các khoản nhận, biếu, tặng tài trợ; chênh lệch tỉ giá hối đoái phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản; …

1.1.3.2. Nợ phải trả      

Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho tác nhân kinh tế khác như: Nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, cho nhà nước, cho người lao động trong doanh nghiệp.

Nợ phải trả của doanh nghiệp được phân ra làm 2 loại là nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN TOÀN BỘ BÀI VIẾT XIN QUÝ KHÁC LIÊN HỆ

Web: http://chuyenvietthueluanvan.com/

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline, ZALO: 0926.708.666

Leave Comments

0926708666
0926708666