ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NUÔI DẠY TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC QUẬN HAI BÀ TRƯNG, TP HÀ NỘI

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

 

 

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NUÔI DẠY TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC QUẬN HAI BÀ TRƯNG, TP HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ  QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2018

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định: “…Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp nuôi dạy trẻ tại các trường mầm non theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo chăm sóc sức khẻo cho trẻ; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, những biện pháp giáo dục nuôi dậy trẻ đã lỗi thời.  Theo quy định, chức năng của trường mầm non là nuôi và dạy trẻ. Dạy là công việc của giáo viên, còn nuôi (trong đó quan trọng nhất là ăn uống) là nhiệm vụ của cô nuôi. Thế nhưng, hiện nay Thông tư số 71/2007/TTLT-BGDĐT – BNV ngày 28-11-2007 của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập mới chỉ quan tâm đến giáo viên mầm non, nhân viên làm công tác văn phòng. Dẫn đến tình trạng, nhiều năm nay, các cô nuôi làm việc ở các cơ sở giáo dục trên địa bàn Hà Nội chỉ được làm việc dưới cơ chế thuê khoán hoặc làm việc theo hợp đồng mùa vụ. Do đó mà đã xảy ra nhiều tình trạng bất cập, những vụ bạo hành trẻ tại một số trường mầm non thời gian qua đang gióng lên hồi chuông báo động về đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên mầm non hiện nay. Bên cạnh đó, số lượng và chất lượng các trường mầm non, các cơ sở trông giữ trẻ cũng đang bộc lộ một số bất cập và cho thấy còn nhiều lỗ hổng về quản lý, đào tạo trong lĩnh vực này. Chất lượng nuôi dạy trẻ hiện nay ở các trường mầm non đặc biệt là các trường tư thục đang xuống cấp và có nhiều những bất cập.

Quận Huyện Gia Lâm Hà Nội với đặc thù gồm 14 phường và theo thống kê của phòng giáo dục quận có  hơn 25 trường mầm non tư thục  trên địa bàn quận, trong đó  có 5 trung  tâm có yếu tố nước ngoài và 20 trường có  yếu  tố trong  nước. Công tác xã hội hóa giáo dục được thực hiện tốt từ cơ sở với những mô hình trường bán công, dân lập, tư thục, do đó mà công tác giáo dục luôn được các cấp uỷ Đảng và thành phố quan tâm và tạo điều kiện phát triển. Tuy nhiên, thực tế quản lý hoạt động  nuôi dạy trẻ thuộc trường mầm non tư thục Huyện Gia Lâm Hà Nội còn nhiều hạn chế do chưa được quan tâm thích đáng, chất lượng nuôi dạy trẻ của các trường mầm non tư thục tại địa bàn Huyện Gia Lâm vẫn chưa được quản lý giám sát một cách chặt chẽ.

Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa và tính cấp thiết của việc cần phải quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non tại, tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá chất lượng nuôi dạy trẻ tại các trường mầm non tư thục Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội” làm đề tài luận văn cao học.

2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chất lượng nuôi dạy trẻ hiện nay đang là đề tài được nhiều cơ quan ban ngành cũng như xã hội rất quan tâm. Do đó vấn đề đánh giá chất lượng nuôi dậy trẻ đã được nhiều hội thảo, sách, báo, tạp chí đề cập đến với nhiều khía cạnh, phạm vi và địa bàn khác nhau:

–           Nguyễn Thị Hoa (2016), đã có bài viết trình bày một cách khái quát các giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non của thành phố Hà Nội, Thời báo Giáo dục đào tạo Việt Nam, số 16, tr14 -18

–           Lê Ngọc Duy (2012), “Sự cần thiết phải quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non của các trường mầm non địa bàn quận Thanh Xuân”. Tác giả đã đưa ra lập luận về sự cần thiết của việc phải nâng cao chất  lượng nuôi dạy trẻ với việc đánh giá, phân tích và tổng hợp các nguyên nhân dẫn đến việc xuất hiện việc yếu kém trong việc nuôi dạy trẻ trên địa bàn quận Thanh Xuân.

–           Nguyễn Thị Hà (2013),” Đánh giá chất lượng nuôi dạy trẻ trên địa bàn tỉnh Hải Dương của các trường mầm non tư thục”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Bách khoa Hà Nội. Tác giả đã đưa ra các lý luận giải pháp nhằm nâng cao chất lượng  nuôi dạy trẻ của các trường mầm non tư thục trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

–           Nguyễn Văn Hùng (2013), “Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non của trường mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ, Đại học bách khoa Hà Nội. Tác giả đã đưa ra sự cần thiết trong việc phải quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non của trường mầm non tại địa bàn thành phố Hà Nội.

–           Nguyễn Ngọc Khánh (2012), “Đánh giá chất lượng hoạt động các trường mầm non tư thục nuôi dạy trẻ trên huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đã đưa ra các chi tiêu so sánh đánh giá hiệu quả trong công tác nuôi dạy trẻ tại trường nuôi dạy trẻ tư thục.

Các công trình nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên các công trình nêu trên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về: Đánh giá chất lượng nuôi dạy trẻ tại các trường mầm non tư thục Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.

3. Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng nuôi dạy trẻ tại Các trường mầm non tư thục Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non tại trên địa bàn Huyện Gia Lâm.

4. Nội dung nghiên cứu

Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về nuôi dạy trẻ của trường mầm non

Vận dụng lí luận khoa học về phân tích nuôi dạy trẻ của trường mầm non để xem xét, đánh giá thực trạng tình hình nuôi dạy trẻ  tại Các trường mầm non tư thục Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.

Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và phát hiện những nguyên nhân; từ đó đề xuất các giải pháp và phương hướng quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non tại Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1. Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động nuôi dạy trẻ tại Các trường mầm non tư thục Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.

5.2. Phạm vi nghiên cứu 

Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu  nuôi dạy trẻ tại Các trường mầm non tư thục Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội tại Hà Nội

Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu tại 5 trường mầm non tư thục thuộc địa bàn quận Huyện Gia Lâm Hà Nội:

  1. Trường mầm non tư thục Hoa Thủy Tiên
  2. Trường mầm non tư thục Sao Mai
  3. Trường mầm non tư thục Bông Hoa Nhỏ
  4. Trường mầm non tư thục Mặt Trời Nhỏ
  5. Trường mầm non tư thục Kim Oanh

Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu  nuôi dạy trẻ tại Các trường mầm non tư thục Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội trong 3 năm 2016 – 2018.

6. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu mô tả, cùng với việc sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp và phân tích số liệu được thu thập tại các phòng kế toán, phòng hành chính bán hàng và phòng kinh doanh trong Các trường mầm non tư thục Huyện Gia Lâm, TP Hà Nội.

6.1. Phương pháp thu thập số liệu

Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp các cán bộ quản lý, giáo viên  cũng như các ban giám hiệu, nhằm thu thập được các thông tin liên qua như: tình hình  nuôi dạy trẻ, thời gian chăm sóc, phương pháp dạy trẻ tại các trường mầm non tư thục.

Thu thập các dữ liệu cần thiết chủ yếu thông qua điều tra khảo sát, báo, tạp chí và internet. Số liệu dự kiến thu thập tại 5 trường mầm non tư thục, với 120 cô giáo và 10 cán bộ quản lý trường mầm non tư thục này.

6.2. Phương pháp xử lý số liệu

Tiến hành phân tích thống kê miêu tả bằng kỹ thuật lập bảng, so sánh ngang , so sanh chéo các số liệu thu được, sắp xếp theo thứ tự các dữ liệu đã được thu thập, rút ra mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu đã thực hiện và đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu và các phương hướng làm cơ sở đưa ra giải pháp.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận thì luận văn được kết cầu gồm 3 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận về hoạt động nuôi dạy trẻ các trường mầm non tư thục

Chương 2. Thực trạng chất lượng nuôi dạy trẻ các trường mầm non tư thục tại Huyện Gia Lâm Hà Nội

Chương 3. Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non tại Huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.

 

 

Chương 1. Cơ sỞ lý luẬn vỀ hoẠt đỘng nuôi  dẠy trẺ TẠI các trưỜng mẦm non tư thỤc

1.1. Tổng quan về chất lượng nuôi dạy trẻ tại các trường mầm non

1.1.1. Các khái niệm chung

1.1.1.1. Khái niệm về chất lượng

Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình. Và ngày nay người ta hay nói nhiều đến việc nâng cao chất lượng, đây được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ một cơ sở hoạt động nào. Vậy “chất lượng” là gì ? Thuật ngữ “chất lượng” có nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và đã có nhiều định nghĩa khác nhau, từ định nghĩa truyền thống đến các định nghĩa mang tính chiến lược, có cái nhìn toàn diện hơn về chất lượng.

Theo từ điển tiếng việt, chất lượng là: “cái làm lên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia”. Như vậy chất lượng là: “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản sự vật (sự việc)…làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác”. (Nguyễn Quốc Cừ, 2000)

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng tuỳ thuộc vào mỗi đối tượng sử dụng. Bộ tiêu chuẩn ISO 8402 định nghĩa chất lượng là “Tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”. Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”.

Ngoài ra, có một số định nghĩa khác về chất lượng được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận. Trong cuốn “Ba chuyên gia về Quản lý Chất lượng” của Suarez (1992), ông đã tiếp cận và ủng hộ hai định nghĩa sau:

–           Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu (Suarez, 1992).

–           Chất lượng là sự thích hợp cho sử dụng (Suarez, 1992).

Như vậy, định nghĩa nêu trong từ điển trên chưa nói đến “khả năng thoả mãn nhu cầu”, một điều quan trọng mà các nhà quản lý rất quan tâm.

Theo quan điểm triết học: Chất lượng gồm hai thành tố chất và lượng; chất là kết quả của quá trình tích lũy về lượng, lượng tích lũy đến một mức độ nhất định sẽ dẫn đến thay đổi về chất.

Theo quan điểm của tác giả thì chất lượng được hiểu như sau: Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng .

1.1.1.2. Khái niệm trường mầm non tư thục

Theo điều 3 điều lệ trường mầm non ban hành theo quyết định 14/2008/QĐ-BGDĐT thì trường mầm non và cơ sở mầm non tư thục được hiểu như sau:

  • Trường mầm non, trường mẫu giáo (sau đây gọi chung là nhà trường), nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập và tư thục.
  • Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo công lập do cơ quan Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên.
  • Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động và được chính quyền địa phương hỗ trợ.
  • Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước.

Như vậy, theo quy định trên thì có 3 loại hình trường mầm non đó là:

-Trường mầm non (mẫu giáo) công lập được thành lập từ sự đảm bảo, đầu tư của Nhà nước .

-Trường mầm non( mẫu giáo) dân lập được thành lập và đảm bảo kinh phí hoạt động của một cộng đồng dân cư đứng ra thành lập và có sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương.

-Trường mầm non (mẫu giáo) tư thục được thành lập và đảm bảo kinh phí hoạt động bởi một tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chứ kinh tế hoặc cá nhân và nguồn vốn đầu tư đảm bảo hoạt động cho cơ sở này sẽ được xuất phát từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước.

1.1.1.3. Khái niệm về chất lượng nuôi dạy trẻ mầm non

Chất lượng giáo dục mầm non là vấn đề được quan tâm của các nhà nghiên cứu về GDMN trên thế giới. Đây là phạm trù rất khó định nghĩa và đo lường. Cho đến nay, chưa có khái niệm nhất quán về chất lượng giáo dục mầm non.

Theo S.V.Nhikitina, chất lượng giáo dục mầm non là sự phù hợp với mục tiêu, sự mong đợi của người tiêu dùng các dịch vụ giáo dục (phụ huynh) liên quan đến quá trình giáo dục, điều kiện và kết quả của nó, cũng như các hoạt động của hệ thống giáo dục mầm non nói chung [19].

Xakharnikova Larissa Eduardovna cho rằng : chất lượng giáo dục mầm non là một tập hợp các thuộc tính và các kết quả của việc giáo dục trẻ em trong độ tuổi mầm non phù hợp với mục tiêu trên cơ sở các yêu cầu, nhu cầu và sự mong đợi của giáo viên, phụ huynh, trẻ em .

Theo V.I.Slobodchikova, chất lượng giáo dục mầm non chính  là  chất lượng cuộc sống của trẻ. Chất lượng giáo dục mầm non được thể hiện trong việc đảm bảo mức độ dịch vụ giáo dục, đáp ứng sự mong đợi và nhu cầu của phụ huynh và các quy định của chính phủ. Cũng theo tác giả, chất lượng giáo dục mầm non là tập hợp các yếu tố như: chất lượng của quá trình giáo dục (mà các thành phần là các nội dung chương trình, tổ chức quá trình nuôi dạy, trẻ em, giáo viên…); chất lượng nguồn lực (nguồn lực và điều kiện cần thiết cho quá trình giáo dục); chất lượng quản lý; chất lượng của các kết quả của hệ thống giáo dục mầm non.

Từ các quan niệm về chất lượng và chất lượng giáo dục, chất lượng GDMN đã phân tích ở trên, có thể hiểu CL GDMN là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục MN, hướng tới sự phát triển toàn diện của trẻ và thoả mãn được nhu cầu của trẻ, của phụ huynh và xã hội.

  1. Chất lượng nuôi dạy trẻ mầm non

–           Chất lượng nuôi dạy trẻ mầm non là những giá trị phát triển của trẻ được tạo bằng các hoạt động nuôi dạy trẻ của trường MN. Thông qua hai hoạt động này, trẻ được đảm bảo an toàn và phát triển tốt về thể chất và phát triển tinh thần. Nhờ đó, trẻ dần dần hình thành được hệ thống những phẩm chất và năng lực mà thời đại yêu cầu. Cụ thể:

–           Chăm sóc: Là một trong hai hoạt động cơ bản của bậc học MN, là hoạt động đặc thù của giáo dục MN so với các bậc học khác. Hoạt động chăm sóc bao gồm rất nhiều những hành động khác nhau với những kết quả cụ thể khác nhau nhưng cùng thực hiện mục tiêu chung: đảm bảo cho trẻ an toàn và phát triển bình thường về mặt thể chất và tâm lý. Hoạt động chăm sóc trẻ thường được gọi là nuôi, bao gồm: giữ cho trẻ an toàn, cho trẻ ăn, uống, làm vệ sinh, giúp trẻ sống hợp vệ sinh….

–           Giáo dục: Cũng như các cấp, bậc học trong hệ thống giáo dục, hoạt động giáo dục là hoạt động cơ bản của trường MN, là một bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình giáo dục) là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đạo đức, lao động, học tập, thẩm mỹ và vệ sinh…

–           Chăm sóc – giáo dục: Luận án sử dụng thuật ngữ nuôi dạy trẻ mầm non . Tác giả luận án muốn nhấn mạnh đối với trẻ mầm non, việc chăm sóc và giáo dục là hai hoạt động cơ bản đều quan trọng như nhau nhằm phát triển thể chất và tâm lý của trẻ, chuẩn bị tốt cho việc trẻ có thể học tập tốt ở các bậc học sau này.

Từ việc phân tích tổng hợp thì theo tác giả chất lượng nuôi dạy trẻ lứa tuổi mầm non là: “Nuôi dạy trẻ em ở lứa tuổi MN để tạo ra những cơ sở tốt đẹp ban đầu cho sự phát triển thể chất và tâm lý của cả cuộc đời của trẻ nói chung và chuẩn bị tốt cho việc trẻ có thể học tập tốt ở các bậc học sau này nói riêng. Từ đó, một trường MN có CL cao chính là nơi nuôi dạy được những trẻ em khỏe mạnh về thể chất, có sự phát triển ban đầu về nhận thức, cảm xúc và hành động là nền tảng cho một sự phát triển toàn diện sau này. CL phát triển thể chất và tâm lý của trẻ được xem là CL trung tâm của quá trình giáo dục MN. Cùng với CL người học, CL nuôi dạy trẻ của các trường MN còn bao gồm: CL của chương trình nuôi dạy trẻ; CL của hoạt động nuôi dạy trẻ; CL của ĐNGV và đội ngũ QL; CL nghiên cứu, ứng dụng KHGD và hợp tác quốc tế; CL tổ chức, quản lý nhà trường; CL của cơ sở vật chất và và trang thiết bị hỗ trợ; nguồn tài chính; khả năng đáp ứng yêu cầu của phụ huynh và của các trường tiểu học…CL nuôi dạy trẻ của trường MN là sự phù hợp với mục tiêu của giáo dục mầm non, đáp ứng các yêu cầu về sự phát triển toàn diện của trẻ, nhu cầu phụ huynh và xã hội, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn CL”.

  1. Quản lý chất lượng trong nuôi dạy trẻ mầm non

Quản lý chất lượng nói chung và QL chất lượng trong GD có thể xem xét ở nhiều góc độ khác nhau: “QLCL trong GD được xem là hệ thống bao gồm các cơ chế và các quy trình, được sử dụng để đảm bảo chất lượng thông qua liên tục cải tiến chất lượng hoạt động của hệ thống GD hay cơ sở GD hoặc lớp học” [15, tr 26].

Mục tiêu của QLCL trong GD là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải tiến liên tục và phát triển của các hoạt động hay quá trình và kết quả giáo dục.

Bản chất QLCL trong GD chính là việc thiết lập và vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng trong GD thông qua cải tiến liên tục dựa trên các giá trị nhằm đạt tới các mục tiêu và vì vậy đạt tới sứ mạng, tầm nhìn, giá trị của hệ thống giáo dục hay cơ sở GD.

  1. Quản lý chất lượng nuôi dạy trẻ mầm non

Từ khái niệm quản lý chất lượng nói chung và QLCL giáo dục nói riêng có thể hiểu QL CL nuôi dạy trẻ ở trường MN là hệ thống bao gồm các cơ chế và các quy trình, được sử dụng để đảm bảo chất lượng thông qua liên tục cải tiến chất lượng hoạt động của nhà trường. Vấn đề này bao hàm cả đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng nuôi dạy trẻ. Thực chất của QLCL nuôi dạy trẻ ở trường MN là việc thiết lập và vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng trong nhà trường thông qua cải tiến liên tục dựa trên các giá trị nhằm đạt tới các mục tiêu đã xác lập.

QLCL nuôi dạy trẻ là quản lý toàn bộ hệ thống các thành tố tác động đến quá trình nuôi dạy trẻ ở trường MN, bao gồm: chất lượng chương trình nuôi dạy trẻ; chất lượng đội ngũ GV,  nhân viên trong nhà trường MN; chất lượng CSVC, trang thiết bị trong trường MN; chất lượng công tác quản lý trường MN; chất lượng công tác xã hội hóa GDMN; chất lượng đầu ra của trường MN; chất lượng trẻ so với mục tiêu giáo dục.

Theo đó, quản lý chất lượng nuôi dạy trẻ được xem xét ở những tiêu chí sau:

–           Thứ nhất, quản lý chất lượng nuôi dạy trẻ bao gồm hệ thống các biện pháp, phương pháp nhằm đảm bảo chất lượng nuôi dạy trẻ, thỏa mãn nhu cầu của phụ huynh nói riêng và xã hội nói chung với hiệu quả kinh tế- xã hội cao nhất.

–           Thứ hai, quản lý chất lượng nuôi dạy trẻ được tiến hành ở tất cả các khâu của quá trình hoạt động này từ khi nghiên cứu nhu cầu của phụ huynh cho đến các khâu tiếp theo như thiết kế quá trình nuôi dạy đáp ứng nhu cầu của phụ huynh, tiếp nhận trẻ vào trường, thực hiện quá trình nuôi dạy trẻ và tổ chức cho trẻ ra trường.

–           Thứ ba, quản lý chất lượng nuôi dạy trẻ là trách nhiệm của tất cả các bộ phận và cá nhân trong trường MN từ Hiệu trưởng, người quản lý các cấp đến mọi GV và nhân viên của trường.

Quản lý chất lượng nuôi dạy trẻ MN có 3 chức năng chính: Chức năng hoạch định chất lượng nuôi dạy của nhà trường, chức năng điều khiển chất lượng nuôi dạy trẻ và chức năng kiểm định đánh giá chất lượng nuôi dạy trẻ.

1.1.2. Vai trò và mục tiêu của việc quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non

1.1.2.1.Đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ bản, toàn diện Giáo dục MN

Để phát triển nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về nguồn nhân lực có chất lượng của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, GD Việt Nam phải đổi mới một cách mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện, Nghị quyết số: 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã chỉ rõ: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”

Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.” Yêu cầu đổi mới cơ bản, toàn diện GD, đòi hỏi các trường MN cũng phải không ngừng đổi mới với mục tiêu cụ thể của mình: “ Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp

Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2018, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục. Để thực hiện được mục tiêu đó có nhiều việc cần phải thực hiện, trong đó đổi mới công tác QLCL ở các cơ sở GD MN là việc làm quan trọng hàng đầu.

1.2.1.2. Đáp ứng yêu cầu phát triển bậc GDMN đến năm 2020

Trong Quyết định Số: 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 06 năm 2012 “Phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” của Thủ tướng chính phủ đã ghi rõ mục tiêu của giáo dục MN: “Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2017; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm xuống dưới 10%”. Tất nhiên, đây chỉ là mục tiêu tối thiểu cho bậc học. Một bộ phận không nhỏ phụ huynh đòi hỏi phải đạt được những mục tiêu cao hơn mà việc thực hiện nó là nhiệm vụ của các trường MNTT chất lượng cao. Để thực hiện mục tiêu trên, các trường cần phải đẩy mạnh công tác QLCL.

1.2.1.3. Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non ở các trường MN

Bên cạnh những thành tựu cơ bản đã đạt được, Nghị quyết số: 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ ra: “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu” là vấn đề chung của GD trong đó có giáo dục MN. Các trường MN hiện vẫn còn một số yếu kém, bất cập trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển trường, trong xây dựng và phát triển đội ngũ GV, NV và đội ngũ QL, tổ chức thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo CL đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế. Đặc biệt, các trường MN còn chưa chú trọng đúng mức đến việc giáo dục các kỹ năng sống và giá trị sống cho trẻ; nội dung nuôi dạy trẻ chưa đáp ứng yêu cầu của giáo dục phổ thông và của xã hội, chậm đổi mới phương pháp nuôi dạy và cách thức đánh giá kết quả hoạt động này; kết quả hoạt động hợp tác quốc tế, viết sáng kiến- kinh nghiệm còn nhiều hạn chế…

Để khắc phục những hạn chế nói trên, các trường MN cần xây dựng một hệ thống QLCL đồng bộ, có sự kết hợp chặt chẽ giữa QLCL (quy trình, cơ chế…) của bên trong với  đánh giá của xã hội.

 

 

1.2.1.3. Mục tiêu của quản lý chất lượng nuôi dạy trẻ mầm non ở trường mầm non tư thục

Mục tiêu quản lý hoạt động nuôi dạy trẻ ở các trường MNTT cũng như các trường công lập đều được Bộ GD&ĐT ban hành các mục tiêu như nhau để tất cả các trẻ em trên toàn quốc đều được thụ hưởng các chế độ nuôi dạy như nhau. Mục tiêu được cụ thể như sau:

QLGDMN là một bộ phận cấu thành của QLGD. QLGDMN giúp cho việc thực hiện mục tiêu của bậc học mầm non là “Phát triển giáo dục mầm non phù hợp với điều kiện và yêu cầu của từng nơi”. Cũng như các bậc học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN cũng có mạng lưới quản lý từ cấp Bộ xuống các trường, lớp mầm non. Trong công tác quản lý trường MN việc quản lý hoạt động nuôi dạy là công việc trọng tâm, cốt lõi mà việc quản lý các mặt hoạt động khác đều nhằm phục vụ cho hoạt động quan trọng này. Để thực hiện được mục tiêu bậc học, điều quan trọng là chủ thể quản lý phải hướng mọi tác động của mình vào việc hiện thực hóa mục tiêu, làm cho quá trình nuôi dạy trẻ đạt được mục tiêu đã xác định, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là quản lý quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

1.2. Nội dung quản lý chất lượng nuôi dạy trẻ mầm non tại các trường mầm non tư thục.

1.2.1. Quản lý việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch nuôi dạy trẻ mầm non

Quản lý mục tiêu Nuôi dạy trẻ nhằm đảm bảo mục tiêu nuôi dạy trẻ được xây dựng hợp lý và được thực hiện trọn vẹn. Mục tiêu Nuôi dạy trẻ phải phản ánh một cách cô đọng, đầy đủ, thực tiễn và khả thi. Quản lý mục tiêu dạy học phải được thường xuyên rà soát, bổ sung, điều chỉnh kịp thời. Cán bộ quản lý phải xây dựng kế hoạch định kỳ nhằm so sánh, đối chiếu mục tiêu với kết quả đạt được để đánh giá một cách toàn diện hoạt động nuôi dạy trẻ, tìm ra mặt mạnh, mặt yếu để có biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường mầm non.

Quản lý mục tiêu Nuôi dạy trẻ ở các trường mầm non tư thục nhằm hình thành và phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần cho trẻ. Cán bộ quản lý thực hiện quản lý mục tiêu nuôi dạy trẻ. Bên cạnh đó các kế hoạch về chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ phải xây dựng trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của trường. Phải thực hiện nghiêm túc chế độ dinh dưỡng và thõa mãn hợp lý nhu cầu ăn, ngủ, nghỉ ngơi, vui chơi, học tập của trẻ, giúp trẻ phát triển hài hòa, cân đối về thể chất và tinh thần, hình thành ở trẻ nề nếp, thói quen tốt trong mọi hoạt động.

Quản lý việc thực hiện công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ là phải làm cho giáo viên nhận thức được ý nghĩa của vấn đề này đối với sự phát triển của trẻ, đề ra những yêu cầu bắt buộc để họ phải thực hiện nghiêm túc đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi để họ thực hiện những yêu cầu đó. Thường xuyên giám sát, kiểm tra việc thực hiện chế độ sinh hoạt ở từng nhóm lớp với nhiều hình thức khác nhau, điều chỉnh khi cần thiết để nâng cao chất lượng thực hiện chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ.

1.2.2. Nhu cầu dinh dưỡng thiết yếu của trẻ mầm non

Nhu cầu chất dinh dưỡng ở các lứa tuổi khác nhau. Mỗi giai đoạn khác nhau của cuộc đời, trẻ có những nhu cầu về dinh dưỡng khác nhau, tùy thuộc vào độ tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng, thói quen hoạt động thể lực… khác nhau. Ngoài chuyện khác biệt về số lượng năng lượng, thành phần chất dinh dưỡng trong khẩu phần cũng không giống nhau, vì ở mỗi giai đoạn khác nhau thì sự phát triển về cấu trúc cơ thể và hoạt động của hệ tiêu hóa, chuyển hóa chất dinh dưỡng cũng như hoạt động của cơ thể đều hoàn toàn khác biệt.

  • Trẻ độ tuổi mẫu giáo (3-6 tuổi)

Nhu cầu năng lượng tăng khoảng 1200-1600 kcalo mỗi ngày, nhưng nhu cầu chất béo đã giảm hẳn do tốc độ phát triển của não chỉ còn 20-30% so với giai đoạn trước, vì vậy không cho thêm dầu mỡ vào thức ăn của trẻ nữa. Nhu cầu canxi cũng tạm thời giảm đi, vì tăng trưởng từ giai đoạn này cho đến tuổi tiền dậy thì chậm lại do các nội tiết tố ảnh hưởng trên tăng trưởng không hoạt động tối đa. Trẻ cần được cung cấp năng lượng chủ yếu từ chất bột đường cho hoạt động của mọi tế bào, quan trọng nhất là não, cơ và hồng cầu.

Các bữa ăn của trẻ luôn phải đủ lượng chất bột (cơm, bún, mì, nui…) và rau quả tươi hơn là quan trọng các thức ăn giàu đạm như thịt cá. Trẻ 2 tuổi cần lượng thức ăn bằng một nửa người trưởng thành, và có thể ăn đầy đủ các thức ăn của người lớn, nhưng do kích thước hệ tiêu hóa nhỏ, nên phải cho trẻ ăn làm nhiều bữa, ít nhất 3 bữa chính và 2-3 bữa phụ với đủ loại thực phẩm khác nhau, trong đó có ít nhất 500ml sữa.

Có nhiều loại thức ăn, nhiều loại thực phẩm, nhiều cách ăn, nhiều xu hướng ẩm thực khác nhau tùy thuộc dân tộc, tôn giáo, ý thích cá nhân và kiến thức về dinh dưỡng. Với trẻ em, điều quan trọng đôi khi không phải là cho trẻ ăn thật nhiều, mà phải cho trẻ ăn sao để cung cấp chất dinh dưỡng thật cân đối và phù hợp với nhu cầu của trẻ [5].

1.2.3.  Quản lý hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc  trẻ mầm non

Dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của trẻ. Vì vậy, quản lý tốt công tác này trong trường MN là góp phần thực hiện mục tiêu bảo vệ sức khỏe trẻ. Kế hoạch nuôi dưỡng và đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ cho trẻ là một phần không thể thiếu được trong kế hoạch năm học của trường với mục tiêu cụ thể và biện pháp rõ ràng.

Công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng trẻ mầm non được thực hiện có hiệu quả khi bám sát các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước và của Ngành GDMN như:

–           Chỉ thị 3004/CT-BGDĐT năm 2013 về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2013 – 2014 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

–           Quyết định số 565/QĐ-UBND ngày 9/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non.

Hiệu trưởng có trách nhiệm quản lý chặt chẽ quy trình tổ chức nuôi dưỡng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, cải tiến chế biến món ăn cho phù hợp với khẩu vị của trẻ, giáo dục trẻ có thói quen văn hóa, vệ sinh trong ăn uống. Thường xuyên theo dõi tình hình sức khỏe của trẻ để điều chỉnh chế độ ăn uống, kết hợp với cán bộ y tế trong trường để có kế hoạch kiểm tra công tác nuôi dưỡng ở tất cả mọi khâu, tuyệt đối để hiện tượng ngộ độc xảy ra trong trường mầm non.

  • Trẻ khỏe mạnh, an toàn là nhiệm vụ hàng đầu của trường MN. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này hiệu trưởng phải có kế hoạch phối hợp với cơ sở y tế thường xuyên kiểm tra sức khỏe định kỳ và tiêm chủng cho 100% trẻ trong trường. Chỉ đạo giáo viên cân đo và theo dõi sức khỏe cho trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng hàng tháng, hàng quý.
  • Quản lý việc thực hiện nghiêm túc chế độ vệ sinh chăm sóc trẻ, công tác phòng bệnh theo mùa. Tuyên truyền hướng dẫn công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho trẻ cho các bậc phụ huynh để giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tỷ lệ trẻ mắc các bệnh thông thường ở trường MN.
  • Chỉ đạo việc thực hiện nghiêm túc quy chế bảo vệ an toàn cho trẻ, nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm của giáo viên trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ ở mọi lúc, mọi nơi.
  • Quản lý khẩu phần dinh dưỡng trẻ bằng các phần mềm dinh dưỡng để tính Kcal cho bé hàng ngày.
  • Quản lý thực đơn dinh dưỡng, thay đổi cho phù hợp với khẩu vị và nhu cầu của trẻ, chọn lựa đơn vị cung cấp thực phẩm an toàn vệ sinh.
  • Đào tạo đội ngũ cấp dưỡng có chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ và đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo theo quy định mầm non về bếp an toàn… [14]
1.2.3.1. Quản lý tổ chức bữa ăn cho trẻ mầm non

Công tác quản lý bữa ăn cho trẻ có những vấn đề cần chú ý, trước hết đó là lượng thực phẩm:

–           Lượng thực phẩm cần cho một trẻ hằng ngày ở trường (một bữa chính và một bữa phụ). Được thống nhất cho cả 3 độ tuổi như sau:

–           Tổ chức bữa ăn

–           Xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với độ tuổi:

+ Nhu cầu khuyến nghị về năng lượng của 1 trẻ trong một ngày là: 1470 Kcal.

+ Nhu cầu khuyến nghị về năng lượng tại trường của 1 trẻ trong một ngày (chiếm 50 – 60% nhu cầu cả ngày): 735 – 882 Kcal.

–           Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Tối thiểu một bữa chính và một bữa phụ.

+ Năng lượng phân phối cho các bữa ăn: bữa chính buổi trưa cung cấp từ 35% đến 40% năng lượng cả ngày. Bữa phụ cung cấp từ 10% đến 15 % năng lượng cả ngày.

+ Tỷ lệ các chất cung cấp năng lượng theo cơ cấu:

Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 12 – 15 % năng lượng khẩu phần. Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 20 – 30 % năng lượng khẩu phần. Chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng  55 – 68 % năng lượng khẩu phần.

–           Nước uống: khoảng 1,6 – 2,0 lít / trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn).

–           Xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo mùa.

Bảng 1. 1. Một số thực phẩm (khuyến nghị) chủ yếu trong suất ăn của trẻ

Thực phẩm bữa chính Một suất cơm Thực phẩm bữa phụ Một suất
Gam (g) Gam (g)
Gạo 80 – 100 Gạo, mì sợi 40 – 60
Thịt, cá, trứng 25 – 40 Thịt hoặc cá 15 – 20
Đậu, lạc 10 – 20 Hoặc đậu hạt (khô) 20 – 30
Dầu, mỡ nước 10 – 15 Hoặc quả chin 100 – 150
Rau, củ, qủa 35 -60 Sữa đậu nành 100 – 150

Tỉ lệ giữa các chất sinh năng lượng theo cơ cấu như sau

–           Chất đạm (protit): cung cấp khoảng 12 – 15% năng lượng khẩu phần.

–           Chất béo (lipit): cung cấp khoảng 23% năng lượng khẩu phần.

–           Chất bột (gluxit): cung cấp khoảng 63% năng lượng khẩu phần

-Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Tối thiểu hai bữa chính và một bữa phụ.

+          Năng lượng phân phối cho các bữa ăn: Bữa ăn buổi trưa cung cấp từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa ăn buổi chiều cung cấp  từ 25 % đến 30% năng lượng cả ngày. Bữa phụ cung cấp khoảng 5% đến 10% năng lượng cả ngày.

+          Tỷ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị theo cơ cấu: Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 12 – 15 % năng lượng khẩu phần. Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 35 – 40 % năng lượng khẩu phần. Chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng 45 – 53 % năng lượng khẩu phần.

  • Nước uống: khoảng 0,8 – 1,6 lít / trẻ / ngày (kể cả nước trong thức ăn).
  • Xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo mùa. [12]
1.2.3.2. Quản lý công tác đổi mới tổ chức bữa ăn cho trẻ mầm non

* Đổi mới thực hiện khẩu phần dinh dưỡng, thực đơn, chế biến món ăn

Dinh dưỡng và sức khỏe con người là mối quan tâm của không chỉ ở mỗi gia đình mà của nhiều ngành chức năng. Nhất là vấn đề đảm bảo dinh dưỡng cho người dân, vì thế Bộ Y tế đã ban hành 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý, nhằm thực hiện Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

10 Lời khuyên dinh dưỡng hợp lý đến năm 2020 thực hiện chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến năm

Lời khuyên số 1: Ăn đa dạng nhiều loại thực phẩm và đảm bảo đủ 4 nhóm: chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng.

Lời khuyên số 2: Phối hợp thức ăn nguồn đạm động vật và thực vật, nên ăn tôm, cua, cá và đậu đỗ.

Lời khuyên số 3: Ăn phối hợp dầu thực vật và mỡ động vật hợp lý, nên ăn vừng lạc.

Lời khuyên số 4: Nên sử dụng muối Iốt, không ăn mặn.

Lời khuyên số 5: Cần ăn rau quả hàng ngày.

Lời khuyên số 6: Đảm bảo an toàn vệ sinh trong lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm.

Lời khuyên số 7: Uống đủ nước sạch hàng ngày.

Lời khuyên số 8: Cho trẻ bú mẹ ngay sau khi sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, ăn bổ sung hợp lý và tiếp tục cho bú mẹ đến 24 tháng.

Lời khuyên số 9:Trẻ sau 6 tháng và người trưởng thành nên sử dụng sữa và các sản phẩm của sữa phù hợp với từng lứa tuổi.

Lời khuyên số 10: Tăng cường hoạt động thể lực, duy trì cân nặng hợp lý, không hút thuốc lá, hạn chế uống rượu bia, nước có gar và ăn, uống đồ ngọt.

+ Ăn nhiều rau, củ, quả hàng ngày: trong rau, củ, quả có nhiều vitamin, chất khoáng, chất xơ có tác dụng quét nhanh chất độc và cholesterol thừa ra khỏi ống tiêu hóa, chống táo bón.

Dưỡng chất được giữ lại trong rau củ quả tươi sống tốt hơn là sau khi đã nấu chín. Ngoại trừ cà chua nấu chín cung cấp nhiều lycopen, một chất chống ô xy hóa quan trọng hơn cà chua sống, còn thì hầu hết các loại rau quả khác đều có nhiều dưỡng chất hơn khi ăn sống. Càng nhận được nhiều dinh dưỡng từ những thực phẩm sạch, cơ thể sẽ càng ít đòi hỏi những nguồn năng lượng thay thế như đường và cà phê để nuôi dưỡng bản thân và đổi mới sinh lực. Bổ sung thêm rau và trái cây tươi sống vào món chính và món phụ. Ớt chuông đỏ và cà rốt cung cấp cho bạn nhiều vitamin và chất dinh dưỡng. Rau sống và quả tươi không bị tiếp xúc với nhiệt độ cao khi nấu, nhờ đó không bị mất vitamin và muối khoáng và không sinh ra những chất có khả năng gây ung thư.

Ăn phối hợp nhiều loại rau, củ, quả để có đầy đủ vitamin và các chất khoáng cần thiết cho cơ thể.

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN TOÀN BỘ BÀI VIẾT XIN QUÝ KHÁC LIÊN HỆ

Web: http://chuyenvietthueluanvan.com/

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline, ZALO: 0926.708.666

Leave Comments

0926708666
0926708666