ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT RAU HỮU CƠ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

 

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT RAU HỮU CƠ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

 

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

 

HÀ NỘI, NĂM 2018

 

MỞ ĐẦU
  1. Lý do lựa chọn đề tài

Trong những năm 60 của thế kỷ 20, loài người đã đạt được thành tựu rực rỡ của cuộc cách mạng xanh với các giống mới, với đầu tư thâm canh cao, đã đóng góp vai trò quan trọng nâng cao năng suất cây trồng, đã giải quyết vấn đề cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đã góp phần giải quyết nạn đói, thiếu lương thực, thực phẩm…thời kỳ này. Nhưng mặt trái của quá trình đầu tư thâm canh khi không kiểm soát chặt chẽ quá trình sản xuất sẽ dẫn đến các sản phẩm nông sản sẽ bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và xuất khẩu các sản phẩm nông sản Việt Nam với các nước trên Thế giới. Thực tế thời gian vừa qua khi mà thực phẩm bẩn đã ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và các sản phẩm xuất khẩu của nước ta bị các thị trường nhập khẩu trả lại hoặc từ chối khi các sản phẩm có chứa chất phụ gia cấm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các thuốc kháng sinh cao. Trước thực trạng trên Chính phủ đã kêu gọi toàn dân Nói không với thực phẩm bẩn”

Ngành nông nghiệp với các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản có tốc độ phát triển đáng kể so với thời kỳ trước. Cùng với đó là cũng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc BVTV không đúng quy trình, yêu cầu kỹ thuật; công tác thu gom, lưu trữ và xử lý các loại hóa chất, vỏ bao bì hóa chất BVTV chưa được quan tâm đúng mức. Hình thức chăn nuôi còn manh mún, nhỏ lẻ, phần nhiều được nuôi ở quy mô hộ gia đình khiến cho tỷ lệ chất thải chăn nuôi được xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường là rất thấp (chỉ khoảng 10%) … tất cả các hoạt động đó đều gây áp lực lên môi trường, cụ thể như dẫn đến ô nhiễm đất do sử dụng không hợp lý phân bón hóa học và thuốc BVTV đã xuất hiện cục bộ ở một số vùng chuyên canh nông nghiệp và có xu hướng tăng qua các năm. Hàm lượng kim loại nặng trong đất đã vượt mức cho phép ở một số vùng nông nghiệp[4].

Với xu thế hiện nay sản xuất, thị trường và thói quen của người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp đã thay đổi hướng tập trung nhu cầu cao vào nhóm hàng hoá

 

 

 

nông sản, thực phẩm chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Yếu tố đó chính là động lực đối với sự phát triển của nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam.

Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ là sản phẩm của quá trình sản xuất đòi hỏi rất nghiêm ngặt kiểm soát vật tư đầu vào như không sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, các chất phụ gia, giống biến đổi gen… trong quá trình sản xuất và kiểm soát rất chặt chẽ trong quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản và vận chuyển. Do vậy sản phẩm nông nghiệp hữu cơ là sản phẩm sạch, an toàn chất lượng cao đáp ứng yêu cầu cho nội tiêu và xuất khẩu.

Nông nghiệp hữu cơ còn ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ và cải thiện độ phì nhiêu đất đai, trong đó có các giải pháp ổn định hàm lượng hữu cơ trong đất do hữu cơ không chỉ cải thiện cấu trúc đất, tăng cường khả năng giữ ẩm, giữ dinh dưỡng mà còn giảm các yếu tố độc hại thông qua quá trình tạo phức. Bảo vệ các chức năng quan trọng của đất: như giữ nước, hoạt động của vi sinh vật đất và chu trình dinh dưỡng của đất ảnh hưởng mạnh mẽ đến cấu trúc đất, đặc biệt là tạo độ chặt cho đất. Phương pháp canh tác hữu cơ như luân canh cây trồng, cây trồng phủ đất, bón phân xanh, ủ phân động vật… giúp tăng hoạt động các vi sinh vật và tăng chất lượng đất

Trên cơ sở kết quả thực hiện dự án “Phát triển khung thị trường và sản xuất nông nghiệp hữu cơ Việt Nam” do Hội Nông dân Việt Nam và Tổ chức ADDA – Đan Mạch triển khai ở 9 tỉnh, thành phố phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Tĩnh, Hòa Bình từ 2005-2012) đã vận động và góp phần thúc đẩy sự ra đời của một số mô hình sản xuất rau hữu cơ hiện nay.

Vì vậy để hiểu rõ hơn tình hình áp dụng và hiệu quả sản xuất rau hữu cơ của các nông hộ hiện nay có tác động như thế nào đến các mặt kinh tế, xã hội và môi tường trên địa bàn một số địa phương tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình sản xuất rau hữu cơ tại một số địa phương huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”.

 

 

 

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn về ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất rau hữu cơ đến môi trường, kinh tế, xã hội ở huyện Lương Sơn. Từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm tháo gỡ những hạn chế góp phần nhân rộng mô hình rau hữu cơ của địa phương hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững.

3.  Nội dung nghiên cứu
  • Thực trạng sản xuất của các mô hình rau hữu cơ tại địa phương nghiên cứ
  • Xác định được những tác động của mô hình sản xuất rau hữu cơ tới kinh tế, xã hội và môi trường (tập trung môi trường đất và nước) ở địa phương.
  • Đề xuất những giải pháp nhằm tháo gỡ những tồn tại hạn chế góp phần phát triển và nhân rộng mô hình rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn

 

 

 

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. .Khái niệm về nông nghiệp hữu cơ

NNHC là hệ thống sản xuất nhằm duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Nó dựa trên các chu trình sinh học, đa dạng sinh học và các chu trình thích ứng với điều kiện địa phương hơn là sử dụng vật tư đầu vào với những ảnh hưởng bất lợi. Nông nghiệp hữu cơ bao gồm truyền thống, sự đổi mới và khoa học có lợi cho môi trường và thúc đẩy mối quan hệ công bằng và chất lượng cuộc sống tốt[Theo IFOAM ,1980]. Đó là hệ thống bắt đầu cân nhắc ảnh hưởng của môi trường và xã hội bằng việc hạn chế sử dụng những đầu vào hóa học như phân bón và thuốc trừ sâu hóa học, thuốc chữa bệnh gia súc, cây và con biến đổi gen, chất bảo quản, chất phụ gia và chất phóng xạ[17].

– Rau hữu cơ là sản phẩm của quá trình sản xuất theo nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ. Rau hữu cơ là loại rau canh tác trong điều kiện hoàn toàn tự nhiên (không sử dụng phân bón hóa học, không phun thuốc BVTV, không phun thuốc kích thích sinh trưởng, không sử dụng thuốc diệt cỏ, không sử dụng sản phẩm biến đổi gen)[30].

Bảng 1. 1. Sự khác nhau giữa phương thức sản xuất rau hữu cơ và rau an toàn

 

Tiêu chí  

Rau hữu cơ

 

Rau an toàn

Đất –    Được quy hoạch thành vùng và được trồng một vùng đệm thích hợp để bảo vệ khỏi nguy cơ xâm nhiễm từ bên ngoài

–     Đất trồng được xét nghiệm đảm bảo không ô nhiễm bởi kim loại nặng và các hóa chất độc hại khác

Được quy hoạch thành vùng, có thể được cơ quan chức năng địa phương lấy mẫu xét nghiệm
Nước Được  xét  nghiệm  để  đảm  bảo  nguồn nước đủ tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ Có thể được cơ quan chức năng tại địa phương lấy mẫu xét nghiệm
Dinh

dưỡng

Không được phép sử dụng phân bón hóa học, các chất kích thích sinh trưởng và các sản phẩm biến đổi gen. Chỉ sử dụng các vật tư đầu vào cho sản xuất hữu cơ được phép và có kiểm soát Được sử dụng phân chuồng, phân vi sinh, phân bón lá các chất kích thích sinh trưởng và các loại phân bón hóa học

 

 

 

Tiêu chí  

Rau hữu cơ

 

Rau an toàn

Bảo    vệ thực vật Không được phép sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, chủ yếu áp dụng quy luật đấu tranh sinh học tự nhiên, các chế phẩm sinh học, chế phẩm thảo mộc để kiểm soát sâu bệnh Được phép sử dụng thuốc từ sâu bệnh hóa chất có trong danh mục cho phép của bộ nông nghiệp với thời gian cách ly nhất định
Năng suất Thấp  hơn  hoặc  bằng  so  với  sản  xuất thông thường Năng suất cao
Chất lượng Cây sinh trưởng phát triển tự nhiên, thời gian sinh trưởng dài hơn so với sản xuất thông thường nên tích lũy được nhiều dinh dưỡng Bị cưỡng ép sinh trưởng phát triển nhanh để tăng nâng suất. Tích lũy được ít dinh dưỡng do thời gian sinh trưởng bị rút ngắn.

Nguồn: Vietnamorganic.vn

1.2.   Những nguyên tắc cơ bản để sản xuất nông nghiệp hữu cơ

* Sức khỏe: NNHC cần phải duy trì và làm tăng sức khỏe của đất, thực vật, động vật, con người và hành tinh cùng với nhau chứ không tách rời. Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng sức khỏe của cá thể và cộng đồng không thể tách rời khỏi sức khỏe của hệ sinh thái. Đất khỏe sẽ tạo cho cây trồng khỏe và sẽ làm tăng sức khỏe của con người và động vật [17].

* Sinh thái: NNHC dựa vào hệ sinh thái sống động và chu trình tự nhiên của chúng, làm việc, tranh đua và duy trì chúng. Nguyên tắc này gắn NNHC sâu vào trong hệ sinh thái năng động. Nó cho thấy sản xuất phải dựa vào các tiến trình của sinh thái và sự tái sinh. Để có được thức ăn và sức khỏe tốt phải thông qua sinh thái của môi trường sản xuất cụ thể. Ví dụ như đối với cây trồng thì cần có một môi trường đất sống động, đối với động vật nuôi cần có hệ sinh thái trang trại, đối với cá và các sinh vật biển là môi trường nước[17].

* Công bằng: NNHC cần xây dựng trên mối quan hệ đảm bảo công bằng cùng với sự quan tâm đến môi trường chung và những cơ hội sống cho tất cả các sinh vật.Sự công bằng được mô tả như là sự hợp tình hợp lý, sự tôn trọng, ngay thẳng và tận tình đối với con người và cả với những mối quan hệ của các đời sống

 

 

 

khác ở xung quanh. Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng tất cả những gì có liên quan tới nông nghiệp hữu cơ cần đối xử trong mối quan hệ như con người đảm bảo công bằng tới tất cả các tầng lớp và các bên liên quan: nông nhân- công nhân- trí thức- nhà phân phối – thương nhân và người tiêu dùng[17].

* Quan tâm chăm sóc: NNHC cần được quản lý theo cách phòng ngừa và có trách nhiệm để bảo vệ môi trường, sức khỏe và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai. Đó là những quan tâm chính thức trong việc lựa chọn cách quản lý, phát triển và áp dụng công nghệ trong nông nghiệp hữu cơ. NNHC cần ngăn ngừa những khả năng rủi ro trước khi áp dụng công nghệ và không chấp nhận sử dụng những công nghệ không thể dự đoán được những hậu quả của nó như công nghệ gen chẳng hạn[17].

1.3.   Tiêu chuẩn và Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ:
1.3.1.    Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ:
  1. Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ với bên thứ 3: Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ với bên thứ 3 là hình thức mà đơn vị sản xuất đã sản xuất tuân thủ đầy đủ theo yêu cầu của tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ và đã được tổ chức chứng nhận đánh giá và công nhận, chứng nhận là sản phẩm đạt yêu cầu của sản phẩm hữu cơ. Đây là hình thức phù hợp với các cơ sở sản xuất lớn các doanh nghiệp.
  2. Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ PGS: Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ PGS là hệ thống đảm bảo cùng tham gia (Participatory Guarantee Systems – PGS) được tổ chức IFOAM (Liên đoàn Các phong trào nông nghiệp hữu cơ Quốc tế) công nhận. Đây là hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ của một tổ chức phi chính phủ, phù hợp với thực trạng sản xuất nhỏ lẻ như Việt Hiện nay PGS đang được vận dụng ở hơn 50 nước trên thế giới. Hiện nay PGS Việt Nam đã được IFOAM công nhận là thành viên trong gia đình Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ PGS thế giới từ năm 2013. Ở Việt Nam, có PGS đang vận hành ở Sóc Sơn (Hà Nội); Lương Sơn ( Hòa Bình) và Trác Văn (Hà Nam). Ngoài ra còn có các PGS Hội An, PGS Bến Tre, và đang hình thành PGS ở Tân Lạc (Hòa Bình). Ngoài năm yếu tố cơ bản cấu thành Hệ thống PGS là sự tham gia, một tầm nhìn chung, tính minh

 

 

 

bạch, niềm tin, hợp tác ngang hàng, còn có các bên liên quan như người sản xuất, người tiêu dùng, thương nhân, nhà bán lẻ, các tổ chức NGO .

 

Nhóm điều phối
Người

tiêu dùng

–   Các cơ quan địa phương (Hội nông dân, tổ chức phi chính phủ..)

–  Thương nhân

–  Người tiêu dùng

–  Hợp tác xã..

LIÊN NHÓM
Người sản xuất
Nhóm sản

xuất

Hộ nông

dân

Kích cỡ mỗi hộp tỉ lệ thuận với mức độ chịu trách nhiệm trong việc cấp chứng nhận PGS
Hình 1. 1.Cấu trúc PGS áp dụng cho sản xuất hữu cơ

Nguồn: Từ Thị Tuyế Nhung, 2012

1.3.2.    Tiêu chuẩn áp dụng cho sản xuất hữu cơ:
  • Tiêu chuẩn IFOAM của Mỹ (US Department of Agriculture – National Organic Product), Liên minh châu Âu (EU Organic Farming – Ủy ban Châu Âu – Europe Commission) đã được một số doanh nghiệp Việt Nam áp dụng và được cấp chứng chỉ (ví dụ: Công ty chè Hùng Cường tại Hà Giang; Công ty Phú Viễn – Cà Mau…)
  • Trong nước, có Tiêu chuẩn ngành 10TCN 602-2006 cho sản xuất, chế biến nông nghiệp hữu cơ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hiện nay chỉ để tham khảo); TCVN số 11041:2015: Hướng dẫn sản xuất, chế biến, ghi nhãn và tiếp thi thực phẩm được sản xuất theo phương pháp hữu cơ, áp dụng cho sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi do Bộ KHCN ban hành.

 

 

 

  • Muốn trở thành nhà sản xuất nông nghiệp hữu cơ thì nông dân, doanh nghiệp phải thực hiện theo tiêu chuẩn đảm bảo cùng tham gia (Participatory Guarantee System – PGS) trong sản xuất hữu cơ như các tiêu chuẩn trong Hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS được Tổ chức Phát triển nông nghiệp châu Á – Đan Mạch (ADDA) sử dụng, các tiêu chuẩn đó đã nêu những gì làm được và không được làm trong canh tác hữu cơ, ví dụ như các tiêu chuẩn không được sử dụng hóa chất. Tiêu chuẩn trong sản xuất hữu cơ theo PGS được xây dựng dựa trên Bộ tiêu chuẩn về sản xuất và chế biến các sản phẩm hữu cơ (10TCN 602-2006) đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 30/12/2006 và tiêu chuẩn PGS của Hiện nay, tiêu chuẩn PGS hữu cơ là tiêu chuẩn nội địa đầu tiên của Việt Nam đã được IFOAM công nhận năm 2013 và được trình bày tóm tắt trong 24 tiêu chí cơ bản như sau:
1. Nguồn nước được sử dụng trong canh tác hữu cơ phải là nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm (theo quy định trong tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn của TCVN 5942-1995)
2. Khu vực sản xuất hữu cơ phải được cách ly tốt khỏi các nguồn ô nhiễm như các nhà máy, khu sản xuất công nghiệp, khu vực đang xây dựng, các trục đường giao thông chính…
3. Cấm sử dụng tất cả các loại phân bón hóa học trong sản xuất hữu cơ.
4. Cấm sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học.
5. Cấm sử dụng các chất tổng hợp kích thích sinh trưởng.
6. Các thiết bị phun thuốc đã được sử dụng trong canh tác thông thường không được sử dụng trong canh tác hữu cơ
7. Các dụng cụ đã dùng trong canh tác thông thường phải được làm sạch trước khi đưa vào sử dụng trong canh tác hữu cơ.
8. Nông dân phải duy trì việc ghi chép vào sổ tất cả vật tư đầu vào dùng trong canh tác hữu cơ.
9. Không được phép sản xuất song song: Các cây trồng trong ruộng hữu cơ phải khác với các cây được trồng trong ruộng thông thường.
10. Nếu ruộng gần kề có sử dụng các chất bị cấm trong canh tác hữu cơ thì ruộng hữu cơ phải có một vùng đệm để ngăn cản sự xâm nhiễm của các chất hóa học từ ruộng bên cạnh. Cây trồng hữu cơ phải trồng cách vùng đệm ít nhất là một mét.

Nếu sự xâm nhiễm xảy ra qua đường không khí thì cần phải có một loại cây được trồng trong vùng đệm để ngăn chặn bụi phun xâm nhiễm. Loại cây trồng trong vùng đệm phải là loại cây khác với loại cây trồng hữu cơ. Nếu việc xâm nhiễm xảy

 

 

 

ra qua đường nước thì cần phải có một bờ đất hoặc rãnh thoát nước để tránh bị xâm nhiễm do nước bẩn tràn qua.
11. Các loại cây trồng ngắn ngày được sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ trọn vẹn một vòng đời từ khi làm đất đến khi thu hoạch sau khi thu hoạch có thể được bán như sản phẩm hữu cơ.

Leave Comments

0926708666
0926708666