ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH THỜI SỰ CỦA ĐÀI CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH THỜI SỰ CỦA ĐÀI CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát đài cấp tỉnh khu vực Bắc bộ)

LUẬN ÁN BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI – 2016

 

MỞ ĐẦU

 

 

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng, phát thanh là loại hình báo chí có vị trí, vai trò rất quan trọng. Từ khi ra đời đến nay, phát thanh không ngừng đóng góp vào dòng chảy của đời sống xã hội bằng sự nhanh nhạy của thông tin, quá trình tiếp nhận đơn giản, tiện lợi, hấp dẫn người nghe bởi thế giới âm thanh tổng hợp, sống động và chân thực… Ngay tại thời điểm này ở Việt Nam, những thành công của Đài TNND TPHCM, Đài PT-TH Quảng Ninh, Đài PT-TH Vĩnh Long… đặc biệt là thành công của Kênh phát thanh Giao thông trên sóng của Đài TNVN là những bằng chứng sinh động cho thấy vai trò quan trọng và sức mạnh của phát thanh trong xã hội hiện đại.

Theo Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông:

Hiện nay cả nước có 67 đài phát thanh, đài truyền hình và đài PT-TH (gọi chung là đài phát thanh, truyền hình), trong đó có 64 đài phát thanh, truyền hình địa phương của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Bên dưới đài phát thanh, truyền hình cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là hệ thống các đài phát thanh, truyền hình cấp huyện, xã với các tên gọi khác nhau, mô hình tổ chức, quản lý khác nhau [8, tr.1].

Như vậy, ĐCT là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống phát thanh, truyền hình 4 cấp ở Việt Nam. ĐCT là kênh thông tin quan trọng để những người trong cùng địa phương kết nối, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ nhau một cách dễ dàng. Bằng việc kết hợp những ưu thế của loại hình phát thanh với tính chất tác động sâu về thông tin địa phương, ĐCT trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam.

Trong các chương trình phát thanh của ĐCT, CTPTTS được coi là trang nhất của tờ báo nói. Mức độ quan trọng của nó được thể hiện qua việc luôn được bố trí phát sóng vào “giờ vàng”, thời điểm có nhiều người nghe nhất trong ngày. Điều này xuất phát từ việc nội dung chương trình luôn đề cập đến những vấn đề mang tính thời sự. Chương trình thường sử dụng những thể loại thuộc nhóm thông tấn

 

 

 

 

báo chí như: tin, tường thuật, phỏng vấn, ghi nhanh, điều tra…, trong đó đặc biệt là tin được sử dụng với tần suất cao. Vì thế, cơ cấu hệ thống chương trình phát thanh ở mỗi đài tuy khác nhau, nhưng toàn bộ 64 ĐCT, thành phố trực thuộc Trung ương ở nước ta, đều có một CTPTTS phổ biến là 30 phút hoặc 45 phút.

Mặc dù là chương trình quan trọng nhất của ĐCT, nhưng nhiều năm qua, chất lượng, hiệu quả hoạt động của CTPTTS ở nhiều ĐCT đang bộc lộ những điểm yếu sau đây:

  • Thứ nhất: Chất lượng nội dung thông tin thấp. Nhiều nghiên cứu cho thấy, CTPTTS của nhiều ĐCT chưa được quan tâm đến chất lượng nội Việc lựa chọn vấn đề, sự kiện phản ánh trong chương trình để lôi cuốn người nghe, tạo bản sắc riêng chưa thực sự hiệu quả. Việc PV, BTV làm tác phẩm truyền hình, sau đó sử dụng văn bản đọc trong CTPTTS không phải là hiện tượng xa lạ ở một số ĐCT. Thậm chí, có nơi người ta còn sử dụng phát thanh làm phương tiện tiếp sóng chương trình tường thuật và bình luận bóng đá trên truyền hình hoặc tiếp sóng tín hiệu âm thanh một bản tin thế giới từ truyền hình! Bên cạnh đó, do lượng tin bài khai thác đưa vào chương trình chiếm tỷ lệ cao hơn tin bài của PV thực hiện, dẫn đến tình trạng thông tin vừa chậm, vừa không đáp ứng được yêu cầu về đặc điểm của thể loại tác phẩm và chương trình phát thanh…
  • Thứ hai: Chưa coi trọng việc cải tiến hình thức chương trình. Trong thực tế, không ít CTPTTS ở ĐCT có lịch sử hàng chục năm nhưng đến nay vẫn chưa có những cải tiến mang tính đột phá. Cách thể hiện tác phẩm và chương trình nhìn chung còn đơn điệu, kém hấp dẫn người nghe, không phát huy được thế mạnh của loại hình báo nói. Phần lớn tin, bài trong CTPTTS vẫn được viết “chay”. Các chất liệu quan trọng để tạo nên giá trị của “âm thanh tổng hợp” gồm tiếng động và âm nhạc chưa được coi trọng hoặc sử dụng chưa hiệu quả. Việc biên tập tác phẩm và chương trình qua loa, đưa vào đọc trong chương trình diễn ra khá phổ biến.
  • Thứ ba: Chất lượng nguồn nhân lực thấp. Có một thực tế là những người có năng lực tốt thường không về công tác tại đài địa phương, còn nếu về thì họ tìm cách xin chuyển qua làm truyền hình. Ngay trong cách bố trí nhân lực ở một số

 

 

 

 

ĐCT cũng cho thất có sự bất cập, những người có tay nghề giỏi thường được phân công làm truyền hình chứ không phải làm phát thanh.

Hiện nay, trừ những người làm phát thanh được coi là chuyên nghiệp như ở đài chỉ có phát thanh như Đài TNVN và Đài TNND TPHCM, đa số những người làm phát thanh ở ĐCT đều phải viết cho cả phát thanh lẫn truyền hình. Tuy nhiên, không ít trường hợp PV, BTV có trình độ, tay nghề giỏi, làm phát thanh một thời gian, sau lại tìm cách chuyển sang làm truyền hình. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các ĐCT luôn thiếu những người có tay nghề làm phát thanh giỏi.

  • Thứ tư: sở vật chất kỹ thuật thiếu không đồng bộ. Phát thanh trong xã hội hiện đại không những đòi hỏi yêu cầu về chất lượng nội dung thông tin và hình thức thể hiện, mà còn đòi hỏi phải có một hệ thống trang thiết bị hiện đại. Phát thanh muốn hấp dẫn thính giả phải có sóng trong, sóng khoẻ, chất lượng âm thanh tốt. Trong khi phát thanh thế giới đã và đang chuyển mạnh sang công nghệ kỹ thuật số DAB (Digital Audio Broadcasting), Đài TNVN cũng đang tích cực ứng dụng công nghệ này vào quy trình sản xuất chương trình thì nhiều ĐCT gần như chưa có sự đầu tư mang tính đột phá. Một số đài đã quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ mới, nhưng do đầu tư nhỏ giọt, chắp vá, cục bộ nên vẫn trong tình trạng thiếu và không đồng bộ. Do vậy, bài toán về đầu tư thiết bị cho phát thanh tuy không quá khó so với truyền hình nhưng không phải nơi nào cũng giải quyết được một cách căn cơ.
  • Thứ năm: Chưa nắm bắt được nhu cầu của thính giả. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, lượng người nghe CTPTTS của ĐCT ở nước ta khá thấp. Kết quả nghiên cứu của sinh viên Hoàng Minh Thúy trong khóa luận tốt nghiệp đại học – Học viện BC&TT năm 2009 (đề tài “Nâng cao hiệu quả CTPTTS 17h – 17h30 trên sóng Đài PT-TH Hà Nội”) về CTPTTS của Đài PT-TH Hà Nội cho thấy: có 16,5% thính giả không bao giờ nghe chương trình; 16,4% thính giả hiếm khi nghe; 40,7% thính giả thỉnh thoảng nghe; chỉ có 26,4% thính giả thường xuyên nghe chương trình này.

Trong đề tài: “Thực trạng tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng của người dân và nhu cầu đối với đài phát thanh” (khảo sát tại tỉnh Đồng Tháp, tháng 12.2008) của Học viện BC&TT cùng Viện Friedrich Ebert Stiftung (FES) của Đức

 

 

 

 

cho thấy: có 80% số người được hỏi, trả lời rằng họ xem truyền hình hàng ngày, trong khi chỉ có 19,6% nghe phát thanh…

Rõ ràng trong thực tế đang có sự chênh lệch rất lớn giữa người nghe phát thanh so với người xem truyền hình. Nguyên nhân “vì phần lớn các chương trình vẫn còn coi thính giả như những đối tượng tiếp thu thông tin thụ động, một chiều mà không quan tâm đến việc họ có thực sự cần những thông tin mà mình cung cấp hay không” [61, tr.610].

Xuất phát từ thực trạng trên, cho thấy việc khảo sát, nghiên cứu CTPTTS của ĐCT ở Việt Nam nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin ngày càng cao của công chúng thính giả ở địa phương trong bối cảnh cạnh tranh thông tin gay gắt giữa các loại hình báo chí hiện đại, là yêu cầu có tính cấp thiết. Đó là lý do để tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Đổi mới chương trình phát thanh Thời sự của đài cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” cho luận án tiến sĩ báo chí học của mình.

2.  Giả thuyết nghiên cứu

  • Thứ nhất: Trong hệ thống các chương trình phát thanh của ĐCT ở Việt Nam hiện nay, CTPTTS là chương trình quan trọng nhất, là “trang nhất” của tờ báo nói. Tuy nhiên, hầu hết các CTPTTS của ĐCT ở Việt Nam chưa khẳng định được vai trò, tầm quan trọng và vị trí của mình.
  • Thứ hai: Bên cạnh những thành công, CTPTTS của ĐCT đang bộc lộ nhiều hạn chế trên các phương diện: nội dung thông tin, hình thức thể hiện, phương thức sản xuất, chất lượng kỹ thuật… Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đòi hỏi phải có sự phân tích, lý giải cặn kẽ trên cơ sở các cứ liệu thực tế.
  • Thứ ba: Chỉ có trên cơ sở nhận diện đúng về những thành công, hạn chế, cùng với những vấn đề đang đặt ra đối với CTPTTS của ĐCT mới có thể đề xuất được những giải pháp khoa học nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình một cách toàn diện.

 

 

 

 

  • Thứ : Trong bối cảnh bùng nổ các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay, các CTPTTS của ĐCT vẫn có thể khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng đối với thính giả nếu được quan tâm đầu tư và áp dụng kịp thời các giải pháp khoa học.

3.  Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.  Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát làm rõ thực trạng chất lượng nội dung, hình thức, phương thức sản xuất và những vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất CTPTTS của ĐCT ở Việt Nam hiện nay, luận án khẳng định những thành công, hạn chế, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp và khuyến nghị khoa học nhằm đổi mới thành công CTPTTS của ĐCT, trong đó tập trung vào đổi mới nội dung, hình thức và phương thức sản xuất theo hướng phát thanh hiện đại.

3.2.  Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Thứ nhất, thiết lập hệ thống khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài, xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu và các tiêu chí đổi mới, chỉ ra các đặc điểm của CTPTTS của ĐCT.
  • Thứ hai, khảo sát thực trạng CTPTTS của 3 đài PT-TH Hà Nội, Quảng Ninh, Hòa Bình; chỉ ra những thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh đổi mới chương trình.
  • Thứ ba, phân tích, tổng hợp ý kiến của các nhà khoa học; những người trực tiếp làm công tác quản lý, lãnh đạo, chủ nhiệm chương trình; các PV, BTV, KTV ở ĐCT về những vấn đề đang đặt ra đối với CTPTTS của ĐCT.
  • Thứ tư, điều tra thính giả ở 3 địa phương là Hà Nội, Quảng Ninh, Hòa Bình để nắm bắt thực trạng tiếp nhận và nhu cầu thực tế của thính giả qua CTPTTS.
  • Thứ năm, đề xuất các nhóm giải pháp mang tính đồng bộ và những khuyến nghị khoa học nhằm đổi mới nội dung, hình thức và phương thức sản xuất CTPTTS của ĐCT ở Việt Nam hiện

4.  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề đổi mới CTPTTS của ĐCT ở Việt Nam hiện nay.

 

 

 

 

 

Đối tượng khảo sát của luận án là CTPTTS của ĐCT ở Việt Nam, đồng thời khảo sát, thu thập ý kiến nhận xét, đánh giá của lãnh đạo, quản lý, chủ nhiệm chương trình, các PV, BTV, KTV của ĐCT; khảo sát thực trạng và nhu cầu tiếp nhận của thính giả ở 3 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Quảng Ninh và Hòa Bình về CTPTTS của ĐCT.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về không gian: Luận án lựa chọn CTPTTS của 3 Đài PT-TH: Hà Nội, Quảng Ninh và Hoà Bình. Đây là 3 ĐCT, đại diện cho các nhóm đài thuộc 3 vùng lãnh thổ: Đông Bắc bộ, Tây Bắc bộ, Đồng bằng Bắc bộ ở miền Bắc Việt
  • Về thời gian: Để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, luận án giới hạn thời gian khảo sát trong 4 năm (từ 2010 đến hết 2013). Đây là thời điểm nghiên cứu sinh thực hiện luận án theo quyết định của Giám đốc Học viện BC&TT.

5.  Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

5.1.  Cơ sở lý thuyết

  • sở lý thuyết chung: Luận án được nghiên cứu dựa trên nền tảng khoa học lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về báo chí cách mạng.
  • sở lý thuyết chuyên biệt: Luận án sử dụng 3 lý thuyết phổ biến trong lĩnh vực truyền thông gồm: lý thuyết truyền thông, lý thuyết truyền thông phát triển, lý thuyết tiếp nhận làm cơ sở cho vấn đề nghiên cứu.

5.2.  Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu chung: Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và nhân văn như: phân tích – tổng hợp, thống kê – so sánh, lôgic – lịch sử, mô hình hoá – khái quát hoá, quy nạp – diễn dịch… Trong đó phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê – so sánh được tác giả sử dụng thường xuyên để phân tích, đánh giá chất lượng CTPTTS của 3 đài trong diện khảo sát, từ đó rút ra những kết luận phục vụ cho các luận điểm trong luận án.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: được sử dụng trong luận án gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp khảo sát thực tiễn, phương pháp chọn mẫu,

 

 

 

 

 

phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn an két, phương pháp thảo luận nhóm. Trong đó:

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về phát thanh, chương trình phát thanh, CTPTTS của ĐCT; những tư liệu liên quan đến việc tổ chức sản xuất CTPTTS của ĐCT ở Việt Nam và kinh nghiệm làm phát thanh ở một số nước trên thế giới. Đây là cơ sở lý thuyết để phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực tiễn và đề ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu.

+ Phương pháp khảo sát thực tiễn, sử dụng để nghiên cứu, xác định diện mạo chung và thực trạng hoạt động sản xuất CTPTTS của ĐCT. Tập trung vào nghiên cứu thực trạng nội dung, hình thức, phương thức sản xuất và những vấn đề liên quan đến quá trình sản xuất chương trình. Kết quả thu được là bằng chứng chứng minh cho các luận điểm nghiên cứu và làm rõ các vấn đề đặt ra trong thực tiễn tổ chức, sản xuất CTPTTS của ĐCT.

+ Phương pháp chọn mẫu, sử dụng để chọn ra các chương trình của 3 đài khảo sát để tiến hành phân tích, so sánh, đánh giá. Do số lượng chương trình và số lượng tin bài trong chương trình của 3 đài khảo sát trong 4 năm (từ năm 2010 đến hết năm 2013) rất lớn, nên tác giả đã sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và phương pháp chọn mẫu chủ đích để lựa chọn chương trình. Để đảm bảo tính khách quan trong chọn mẫu, mỗi tháng tác giả chọn ngẫu nhiên 3 chương trình của 3 đài. Đồng thời, để tương đồng về số lượng chương trình trong tháng và tương đồng về thời điểm phát sóng, tác giả chủ đích chọn 3 chương trình của 3 đài phát sóng cùng một ngày. Mục đích là để đảm bảo được sự cân đối về số lượng và khách quan trong quá trình so sánh về nội dung thông tin trong chương trình của 3 đài. Theo nguyên tắc này, tác giả đã chọn ra được 144 chương trình (3 đài x 12 chương trình x 4 năm), với tổng số 1.038 tin bài các loại. Đây là cứ liệu chủ yếu để tác giả tiến hành nghiên cứu, phân tích nội dung, hình thức tin bài và kết cấu chương trình, đồng thời là cơ sở để đánh giá thực trạng chất lượng CTPTTS của 3 ĐCT. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu định lượng, kết hợp với phân tích sâu các ví dụ điển hình.

 

 

 

 

 

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, thực hiện trên 2 nhóm đối tượng là người tiếp nhận và người tổ chức, sản xuất:

Thứ nhất, người tiếp nhận: đó là thính giả ở 3 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Quảng Ninh và Hòa Bình. Mục đích nhằm thu thập thông tin về nhu cầu thực tế của công chúng qua CTPTTS. Dung lượng mẫu là 500 phiếu, lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Trong đó Hà Nội là địa bàn có dân số đông nhất (7,1 triệu người) nên số phiếu phát ra là 200 phiếu, tỉnh Quảng Ninh có dân số ít hơn (trên 1,2 triệu người) nên số phiếu phát ra là 150 phiếu, tỉnh Hòa Bình có dân số ít nhất (trên 800.000 người) nên số phiếu phát ra là 150 phiếu. Nội dung thông tin khảo sát trong bảng hỏi chủ yếu thuộc hai dạng nghiên cứu định lượng và định tính. Mỗi phiếu có 32 câu hỏi, mỗi câu hỏi nhằm vào mục tiêu cụ thể, liên quan trực tiếp đến CTPTTS của ĐCT (Phụ lục 1.1).

Kết quả thu về 398 phiếu (79,6%), trong đó: Hà Nội 158 phiếu (79%), Quảng Ninh 133 phiếu (88,6%), Hòa Bình 107 phiếu (71,3%). Trong 398 phiếu:

  • Mẫu theo giới: nam (188 phiếu), nữ (210 phiếu).
  • Mẫu theo độ tuổi: dưới 20 (81 phiếu), từ 21 – 30 tuổi (129 phiếu), 31 – 40 tuổi (69 phiếu), 41 – 50 (36 phiếu), trên 50 tuổi (83 phiếu).
  • Mẫu theo nghề nghiệp: công chức, viên chức (98 phiếu), công nhân (44 phiếu), nông dân (39 phiếu), buôn bán, dịch vụ (30 phiếu), lực lượng vũ trang (4 phiếu), học sinh, sinh viên (115 phiếu), hưu trí, nội trợ (62 phiếu), thất nghiệp (4 phiếu), không tiết lộ nghề nghiệp (2 phiếu).

Cuộc khảo sát trên được thực hiện vào năm 2011. Toàn bộ phiếu khảo sát hợp lệ thu về được xử lý bằng phần mềm SPSS.

Thứ hai, người tổ chức, sản xuất CTPTTS: bao gồm PV, BTV, KTV của 3 đài trong diện khảo sát. Mục đích thu thập những cứ liệu xác thực nhằm đánh giá thực trạng chất lượng CTPTTS, đồng thời thu thập ý kiến làm cơ sở đề xuất các giải pháp, khuyến nghị khoa học trong việc đổi mới chương trình. Số phiếu phát ra là 45 phiếu, chia đều cho 3 đài, kết quả thu về 38 phiếu (84%). Trong đó, Đài PT- TH Hà Nội 13 phiếu (34,3%), Đài PT-TH Quảng Ninh 14 phiếu (36,8%), Đài PT- TH Hòa Bình 11 phiếu (28,9%). Cuộc khảo sát được thực hiện vào năm 2011. Toàn bộ phiếu khảo sát hợp lệ thu về được xử lý bằng phần mềm SPSS (Phụ lục 3).

 

 

 

 

+ Phương pháp phỏng vấn an két. Phương pháp này được thực hiện bằng bảng hỏi, dành cho nhóm đối tượng là giám đốc, phó giám đốc; trưởng, phó các phòng, ban của ĐCT (Phụ lục 4; 5). Đây là những người làm công tác quản lý, lãnh đạo, chủ nhiệm chương trình nên có hiểu biết sâu về CTPTTS. Nội dung bảng hỏi tập trung vào việc lấy ý kiến nhận xét đánh giá về thực trạng, chất lượng nội dung, hình thức, phương thức sản xuất, hướng đổi mới CTPTTS của ĐCT. Do vậy, phạm vi khảo sát không chỉ thực hiện ở 3 đài PT-TH Hà Nội, Quảng Ninh, Hòa Bình mà còn mở rộng ra 9 đài khác trong cả nước là: Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Lạng Sơn, Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Trị, Kiên Giang. Tổng số phiếu phát ra là 50 phiếu, kết quả thu về 36 phiếu (72%). Có 6 phiếu không hợp lệ do người trả lời không thuộc diện cán bộ quản lý, lãnh đạo, chủ nhiệm chương trình như tiêu chí đề ra.

+ Phương pháp thảo luận nhóm. Được tiến hành với đối tượng là sinh viên từ năm thứ 2 đến năm thứ 4 các lớp Báo Phát thanh 27, 28, 29; Báo PT-TH 27B, 28B, 29B; Báo in 29A1, 29A2; Báo in 28B, 29B của Học viện BC&TT. Phương pháp này được thực hiện theo hình thức chia lớp ra thành từng nhóm từ 5 – 8 sinh viên để nghe CTPTTS của 3 đài thuộc diện khảo sát. Mỗi nhóm nghe 3 chương trình của 3 đài phát sóng cùng một ngày. Mục đích là để có sự so sánh giữa các chương trình của các đài với nhau. Yêu cầu các nhóm thảo luận, đưa ra các ý kiến nhận xét, đánh giá chất lượng chương trình, tập trung vào nội dung, hình thức, phương thức sản xuất; chỉ ra những thành công, hạn chế; đề xuất ý kiến cải tiến, đổi mới nâng cao chất lượng chương trình…

Kết quả thu được từ các nhóm là căn cứ quan trọng để tác giả đề xuất các giải pháp và khuyến nghị khoa học cho vấn đề nghiên cứu.

6.  Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1.  Ý nghĩa lý luận

  • Nếu được thực hiện thành công, luận án sẽ góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận về phát thanh nói chung, vấn đề đổi mới CTPTTS của ĐCT trong môi trường truyền thông mới ở Việt Nam hiện nay nói riêng.

 

 

 

 

 

  • Luận án góp phần khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược phát triển sự nghiệp phát thanh ở Việt Nam, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học giúp cho việc triển khai thành công chiến lược phát triển hệ thống phát thanh nói chung, hoạt động phát thanh của ĐCT nói riêng.
  • Luận án là nguồn tài liệu tham khảo tin cậy cho sinh viên chuyên ngành phát thanh, học viên ngành báo chí học, giảng viên báo chí, các nhà nghiên cứu lý luận về phát thanh quan tâm đến đề tài này.

6.2.  Ý nghĩa thực tiễn

  • Luận án cung cấp những cứ liệu khoa học cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng CTPTTS của ĐCT.
  • Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các ĐCT xác định đúng vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CTPTTS, từ đó có thể lựa chọn hướng đổi mới thích hợp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thính giả ở địa phương trong tình hình mới.
  • Thông qua những nghiên cứu, luận án đề xuất các nhóm giải pháp và khuyến nghị khoa học nhằm nâng cao chất lượng CTPTTS của ĐCT, góp phần làm cho hệ thống phát thanh ở Việt Nam không ngừng phát triển.
  • Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho những người đang làm phát thanh ở ĐCT có thêm nhận thức, gắn bó hơn với nghề báo nói.

7.  Đóng góp mới về khoa học của luận án

  • Về lý luận, luận án hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về phát thanh, chương trình phát thanh, CTPTTS, CTPTTS của ĐCT; vấn đề đổi mới, đổi mới chương trình phát thanh, đổi mới CTPTTS của ĐCT… Khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của chương trình trong việc thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân, đồng thời là kênh thông tin quan trọng trong việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống ở địa phương một cách hiệu quả. Chương trình còn là diễn đàn tin cậy để người dân phát biểu ý kiến, tâm tư, nguyện vọng với Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương.
  • Về thực tiễn, luận án tập trung khảo sát 3 vấn đề trọng tâm của CTPTTS đó là nội dung, hình thức và phương thức sản xuất. Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra những thành công, hạn chế của chương trình và những vấn đề đặt ra đối với chương trình trong bối cảnh đổi mới:

 

 

 

 

+ Những thành công: (1) về nội dung, CTPTTS của ĐCT luôn bám sát định hướng chính trị của tỉnh và thành phố về công tác thông tin tuyên truyền; phản ánh tương đối đậm nét các vấn đề thời sự kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương; thực hiện tốt chức năng giáo dục, góp phần nâng cao trình độ văn hóa cho người dân. Chương trình góp phần đáng kể vào việc cổ vũ động viên khích lệ những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, kịp thời nêu gương người tốt việc tốt. Với 80% thời lượng đề cập đến các vấn đề thời sự địa phương, cho thấy CTPTTS của ĐCT đã thể hiện được tính địa phương cao. Chương trình phản ánh khái quát những vấn đề thời sự trong nước và quốc tế, giúp cho thính giả hiểu thêm về tình hình thời sự bên ngoài không gian của địa phương. (2) Về hình thức, chương trình đã vận dụng được một số thể loại mũi nhọn của phát thanh, đặc biệt là thể loại tin (chiếm 87,78%). Một số chương trình sử dụng tương đối phong phú các hình thức tiết mục, nhiều bài viết có khai thác sử dụng lời nói của nhân vật, nhiều ca khúc minh họa sử dụng có chọn lọc, kết cấu chương trình tương đối ổn định. (3) Chương trình bước đầu áp dụng thành công phương thức PTTT vào quy trình sản xuất.

+ Những hạn chế: (1) Về nội dung, CTPTTS của ĐCT phản ánh chưa đồng đều trên các lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương (Ví dụ: tin chính trị trong chương trình của Đài PT-TH Quảng Ninh là 37,31%, Đài PT- TH Hà Nội là 32,77%, Đài PT-TH Hòa Bình là 25%; tin kinh tế trong chương trình của Đài PT-TH Quảng Ninh và Hòa Bình là 28,41% và 29,80%, của Đài PT-TH Hà Nội là 10,20%…); tỷ lệ tin lễ tân, hội nghị còn nhiều; còn thiếu những tin bài mang tính chiến đấu, những tác phẩm thông tin chiều sâu, những đề tài mang tính phát hiện. (2) Hình thức chương trình còn đơn điệu, mức độ sử dụng các thể loại chưa đa dạng, cơ cấu giọng đọc chưa hợp lý, quá trình đọc xảy ra khá nhiều lỗi, chưa khai thác và sử dụng hiệu quả tiếng nói của nhân vật, chưa khai thác tốt chất liệu âm thanh tổng hợp, chưa áp dụng triệt để các nguyên tắc viết cho người nghe, chưa coi trọng lời dẫn trong chương trình. (3) Về phương thức sản xuất, chương trình chưa khai thác và phát huy tốt thế mạnh của thông tin thời sự, chưa làm chủ được nguồn tin, chưa chuẩn hóa được phương thức PTTT…

 

 

 

 

  • Luận án chỉ ra các nhóm giải pháp đổi mới về nội dung, hình thức, phương thức sản xuất và một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức, sản xuất chương trình; đề xuất 2 mô hình CTPTTS cho ĐCT có thời lượng 30 phút, 45 phút và 9 khuyến nghị khoa học nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục hạn chế, tồn tại của chương trình trong giai đoạn hiện

8.  Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm có 4 chương, 13 tiết. Trong đó:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chương trình phát thanh thời sự của đài cấp tỉnh
  • Chương 2: Thực trạng chương trình phát thanh thời sự của đài cấp tỉnh
  • Chương 3: Thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với chương trình phát thanh thời sự của đài cấp tỉnh
  • Chương 4: Những giải pháp, khuyến nghị khoa học nhằm đổi mới chương trình phát thanh thời sự của đài cấp tỉnh.

 

 

 

 

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

 

 

Trong những năm gần đây liên tục có những công trình nghiên cứu về phát thanh, sản xuất chương trình phát thanh ở Việt Nam và thế giới được công bố, trong đó có một số công trình bước đầu đặt vấn đề nghiên cứu về CTPTTS của ĐCT. Liên quan đến đề tài luận án này, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả ở trong nước và nước ngoài sau đây:

1.  Các nghiên cứu nước ngoài

  • Nói về sự đổi mới, cải tiến cách thức xây dựng các chương trình phát thanh, tác giả Lois Baird trong cuốn Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh [78] của Trường Phát thanh, Truyền hình và Điện ảnh Australia đã tập trung vào việc cung cấp kiến thức, hướng dẫn kỹ năng cơ bản về sản xuất chương trình phát thanh nói chung, từ cách viết cho phát thanh, cách xây dựng văn bản, cách làm tin, làm phỏng vấn, làm phóng sự tài liệu cho đến cách cấu trúc một chương trình… Theo tác giả, “ngày càng có nhiều đài và các thể loại chương trình đa dạng nên việc thu hút thính giả cho đài và làm lãi đối với đài phát thanh trở nên khó khăn hơn nhiều. Chưa khi nào nhu cầu xem xét lại một cách cẩn thận những việc đang làm và làm như thế nào lại trở nên bức thiết với đài phát thanh đến như vậy” [78, 165]. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các đài phát thanh thương mại, đài công cộng và đài của chính phủ, việc nghiên cứu thường xuyên và đánh giá lại những kỹ năng làm chương trình để tiếp tục duy trì là hết sức cần thiết. Theo tác giả, “chìa khóa cho việc lên chương trình là tăng

lượng thính giả nghe đài bằng việc chọn quảng cáo, chọn các nguồn tài liệu quảng bá, thu hút sự chú ý của thính giả và làm như thế nào để làm hài lòng thính giả chứ không thì sẽ mất họ” [78, tr.166]. Mặc dù đã chỉ ra và đặc biệt nhấn mạnh một số cách thức để thu hút thính giả như tăng thêm nhận thức về nội dung, tăng cường sử dụng âm nhạc, nhấn mạnh vai trò của người dẫn chương trình, coi trọng vấn đề quảng bá và nghiên cứu thính giả… nhưng tác giả cuốn sách không đề cập trực tiếp đến việc làm thế nào để thu hút thính giả vào một chương trình phát thanh cụ thể như CTPTTS.

 

 

 

 

  • Trong cuốn Basic radio Journalism [134], hai tác giả Paul Chanlter và Peter Stewart đã cung cấp kiến thức cơ bản, nền tảng về quy trình, cách thức sản xuất chương trình phát Mặc dù các tác giả đã tập trung phân tích các kỹ năng của nhà báo phát thanh trong quá trình tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh từ việc thu thập tư liệu, sáng tạo tác phẩm đến đọc nói tin, bài, tổ chức kết cấu chương trình, cách thức xây dựng các chương trình phát thanh chuyên biệt như chương trình chuyên về bầu cử, chương trình chuyên về giáo dục, chương trình chuyên về âm nhạc, giải trí… Các tác giả cũng nhấn mạnh việc xây dựng các chương trình phát thanh phục vụ các nhóm đối tượng nhỏ là một xu thế hiện nay. Vốn là loại hình báo chí có lợi thế về độ nhạy bén, thông tin nhanh, đối tượng tiếp nhận phong phú, các chương trình cần thiên về sự cụ thể, gần gũi, biểu đạt những nhu cầu đa dạng của công chúng trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả không đề cập đến quy trình và kỹ năng tổ chức sản xuất chương trình phát thanh chuyên về tin tức thời sự cho đối tượng thính giả ở địa phương cụ thể như CTPTTS của ĐCT ở Việt Nam.

Cuốn sách Broadcast Journalism [127] của tác giả Andrew Boyd cũng tập trung trình bày, hướng dẫn các kỹ năng tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh, với các nội dung chính là cách viết tin, cách kể chuyện, cách viết cho báo phát thanh, cách phỏng vấn, cách xây dựng chương trình tin tức phát thanh, cách trình bày, thể hiện bằng giọng nói, cách thức biên tập chương trình. Andrew Boyd đã đi sâu phân tích các yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của thông tin trên báo phát thanh và chỉ ra cần xây dựng các chương trình phát thanh gắn liền với nhu cầu và thị hiếu của thính giả. Tác giả đã tập trung phân tích một số chương trình phát thanh cơ bản như là các bản tin nhỏ, các chương trình thời sự, các chương trình thiên về tư liệu, các dạng chương trình chuyên đề. Tuy nhiên, Andrew Boyd không đề cập đến kỹ năng tổ chức sản xuất chương trình phát thanh chuyên về tin tức thời sự hướng vào nhóm đối tượng thính giả chuyên biệt ở địa phương như CTPTTS của ĐCT ở Việt Nam. Mặc dù

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN TOÀN BỘ BÀI VIẾT XIN QUÝ KHÁC LIÊN HỆ

Web: http://chuyenvietthueluanvan.com/

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline, ZALO: 0926.708.666

Leave Comments

0926708666
0926708666