Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay

HỌC VIỆN BÁO CHÍ TUYÊN TRUYỀN

 

GIÁO DỤC CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CHO NÔNG DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

 

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

 

HÀ NỘI – 2017

3

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Bảng: Tổng hợp kết quả tham gia các phong trào từ năm 2009-2014…………………….. 115

Biểu đồ 1: Mức độ giáo dục nội dung các chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội……………………………………………………………………………………………………………………………….. 95

Biểu đồ 2: Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện công tác giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh……………………………………………………………………………………………….. 118

Biểu đồ 3: Mức độ đánh giá về tính bổ ích của nội dung giáo dục chuẩn mực đạo  đức kinh doanh…………………………………………………………………………………………………………………….. 121

Biểu đồ 4: Mức độ sử dụng các phương pháp trong giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội……………………………………………………………………………………………… 123

Biểu đồ 5: Sự phối hợp của các tổ chức, cơ quan trong giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội……………………………………………………………………………………………… 157

 

 

 

 

 

MỞ ĐẦU

 

1.   Tính cấp thiết của đề tài

  • Là một công cụ điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác, với nguyên tắc ưu tiên lợi ích xã hội, đạo đức xuất hiện, tồn tại trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có lĩnh vực sản xuất kinh doanh (SXKD).

Ở Việt Nam, đạo đức kinh doanh (ĐĐKD) được hình thành từ rất sớm, dẫu rằng ngành nghề kinh doanh trong xã hội Việt Nam thời xưa chưa được coi trọng. Có thể nhận thấy điều đó qua các câu châm ngôn, như làm ăn phải có chữ tín, một lần bất tín, vạn lần bất tin, trung thực… như là các quy tắc đạo đức mà mỗi người kinh doanh cần phải tuân thủ. Tuy nhiên, trong một xã hội chưa phát triển và ngành nghề kinh doanh chưa được coi trọng, đề cao thì vấn đề ĐĐKD chưa được các tầng lớp/ giai tầng chú ý.

Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), ở Việt Nam vấn đề ĐĐKD đã được chú trọng nghiên cứu ngày càng nhiều hơn. Bởi điều đó không chỉ giúp các nhà kinh doanh tăng lợi nhuận, mà còn giúp Việt Nam giải quyết được một số vấn đề, như ô nhiễm môi trường, phát triển con người, chất lượng cuộc sống,v.v…. Việt Nam mới chập chững bước vào kinh tế thị trường và vẫn còn chưa dứt bỏ hoàn toàn tàn dư của thời kinh tế tập trung, bao cấp, đặc biệt là cơ chế xin – cho, quan hệ thân quen vẫn tiếp tục gây nhức nhối trong một số lĩnh vực. Điều đáng lo ngại nhất khi Việt Nam bước vào nền kinh tế này nằm ở những lỗ hổng lớn là pháp luật, đạo đức và văn hoá kinh doanh. Bên cạnh đó, việc kết hợp giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài cũng có không ít vấn đề cần được tính toán cẩn thận. Mọi nền kinh tế chuyển đổi đều chứa đựng trong bản thân nó rất nhiều cơ hội cho sự phát triển của từng người cũng như của cả đất nước nhờ việc tạo ra các động lực. Song cũng chính trong nền kinh tế đó lại chứa đựng đầy rẫy những hiểm họa và cạm bẫy do đạo đức suy thoái, do lợi ích trước mắt, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm được đặt lên hàng đầu trong điều kiện pháp luật chưa thật định hình và chưa đủ mạnh.

  • Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển mạnh mẽ đem lại những cơ hội to lớn, song cũng đặt ra không ít những khó khăn, thách thức cho mỗi quốc Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất là mục tiêu quan trọng của tất cả các nước. Quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị trường được ví như cái mặt sàng mà qua sự sàng lọc của nó những ai không thích ứng sẽ bị đào thải. Thực tế qua 30 năm đổi mới, kinh tế – xã hội nước ta đã có những bước chuyển dịch to lớn, đạt được thành tựu trên nhiều mặt. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường cũng có những mặt tác động tiêu cực, đặc biệt là sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận dân cư. Nổi bật trong lĩnh vực kinh tế là tình trạng vi phạm ĐĐKD. Lối sống thực dụng, cá nhân ích kỷ đã làm cho tình trạng tham nhũng, buôn lậu, lừa đảo… trong SXKD ngày càng có đà sinh sôi, nảy nở. Không ít những người kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, vụ lợi cá nhân đã sản xuất hàng hóa trái phép, thải chất độc ra môi trường, buôn lậu, trốn thuế, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, đe dọa sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Điều đó đặt ra những vấn đề quan trọng trong việc giáo dục ĐĐKD và giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh (CMĐĐKD) XHCN cho những người tham gia vào quá trình sản xuất ở Việt Nam hiện nay.
  • Giai cấp nông dân (ND) Việt Nam có vị trí, vai trò, có bề dầy truyền thống, có đóng góp xứng đáng trong lịch sử dựng nước, giữ nước, trong đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” kh ng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội bền vững, giữ gìn ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước…” [16; tr156]. Nghị quyết cũng đã đặt ra nhiệm vụ: “Chăm lo xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam, củng cố liên minh công nhân – nông dân – trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [16; tr178].

Hà Nội là trung tâm chính trị – văn hóa – xã hội của cả nước, là thành phố hướng tới công nghiệp hiện đại. Trong giai đoạn hội nhập hiện nay cùng với giai cấp công nhân và trí thức, ND thành phố Hà Nội đã và đang là lực lượng xã hội quan trọng góp phần phát huy vị thế của thủ đô trên nhiều mặt, đặc biệt trong đó có lĩnh vực phát triển kinh tế. Họ cũng đã nhận thức được vai trò của mình trong công cuộc xây dựng CNXH hiện nay và không ngừng tham gia vào quá trình SXKD, đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu ngành gắn với xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn thành phố.

Tuy nhiên, hoạt động SXKD của người ND Hà Nội còn nhiều bất cập. Nhìn chung ND thu nhập còn thấp, mức sống chưa cao; sản xuất nông nghiệp còn manh mún, sản xuất nhỏ vẫn là chủ yếu; môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm; tư duy kinh tế gắn sản xuất với thị trường của người dân còn sơ khai, chưa được hình thành rõ nét; động cơ sản xuất còn chạy theo lợi nhuận trước mắt, ít quan tâm đến thương hiệu hàng hoá nông sản thông qua sự đảm bảo về xuất xứ, vệ sinh an toàn thực phẩm, ổn định chất lượng và số lượng, chủng loại… Điều này đang tạo nên những lo lắng của người dân trong thời gian gần đây, đặc biệt là nỗi bất an trước tình hình chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Người dân hoài nghi và không còn đủ niềm tin với cái gọi là “thực phẩm sạch”, bởi nếu “bỏ phiếu” cho rau thì không ít loài rau đã nhiễm chì và “ngậm” hóa chất trầm trọng; “bỏ phiếu” cho quả thì khá nhiều loại quả đã “ngấm” hóa chất bảo quản độc hại để tươi ngon lạ lùng hàng tháng trời; “bỏ phiếu” cho thịt, cá thì dư lượng hóa chất gây ung thư vượt ngưỡng…. Trong môi trường thiếu an toàn đó, đã đến lúc phải gióng lên hồi chuông cấp thiết về ĐĐKD.

Do đó để nâng cao đạo đức trong kinh doanh cho người ND, giúp họ hình thành những chuẩn mực cơ bản của ĐĐKD thì việc giáo dục CMĐĐKD cho ND là một vấn đề quan trọng. Đó là một cơ sở quan trọng để xây dựng nền ĐĐKD XHCN ở nước ta giai đoạn hiện nay.

Từ những lý do trên tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành công tác tư tưởng.

 

2.   Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1.   Mục đích

Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục CMĐĐKD cho ND Việt Nam, từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội hiện nay.

2.2.   Nhiệm vụ

  • Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
  • Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội .
  • Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giáo dục CMĐĐKD cho ND ở thành phố Hà nội hiện nay, thông qua việc khảo sát các hộ ND và hợp tác xã ngoại thành Hà Nội.
  • Qua việc phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra, luận án đề xuất và luận giải cơ sở khoa học của những quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND ở Hà Nội hiện

4.   Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.   Đối tượng nghiên cứu

Giáo dục CMĐĐKD cho ND ở thành phố Hà Nội hiện nay.

4.2.   Phạm vi nghiên cứu

  • Thực trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND được nghiên cứu từ năm 2008- là năm hợp nhất tỉnh Hà Tây và TP Hà Nội. Những quan điểm, giải pháp được đề xuất

có ý nghĩa đến năm 2025.

  • Địa bàn khảo sát: Luận án chọn 6 huyện, trong đó 3 huyện thuộc địa bàn Hà Nội cũ, 3 huyện thuộc địa bàn tỉnh Hà Tây cũ, đặc trưng cho vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội, gồm: Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Quốc Oai, Ba Vì.

5.   Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp luận nghiên cứu đề tài

  • Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở những nguyên lý lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về đạo đức và giáo dục đạo đức trong SXKD; về vị trí, vai trò của giai cấp ND trong công cuộc xây dựng
  • Cơ sở thực tiễn: Tình hình đạo đức nói chung, ĐĐKD của ND và thực trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND TP Hà Nội hiện
  • Phương pháp nghiên cứu:

Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó tập trung vào một số phương pháp cơ bản sau đây:

  • Trên cơ sở khoa học của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đây là phương pháp cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Phương pháp này đòi

hỏi: khi xem xét các hiện tượng và quá trình giáo dục phải đặt trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng, chứ không phải là bất biến. Quá trình phát triển là quá trình tích lũy những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất. Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong nghiên cứu giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội để xem xét quá trình giáo dục gắn với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, cũng như đặc điểm riêng của người ND.

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp

Với phương pháp này, tác giả luận án đi từ cái chung, đó là khái niệm, phạm trù cũng như những vấn đề lý luận cơ bản, cần thiết về giáo dục CMĐĐKD, để từ đó đi đến cái chi tiết của vấn đề mà luận án nghiên cứu- đó là giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội. Sau đó, tác giả lại đi từ cái riêng, cái cụ thể- đó là giáo dục CMĐĐKD cho ND ở một số huyện ngoại thành Hà Nội để khái quát thành những nội dung, phương thức giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội và ở các địa phương khác có đặc điểm tương đồng về kinh tế – xã hội. Trên cơ sở đó, liên kết từng mặt nghiên cứu đã được phân tích tạo ra hệ thống lý thuyết mới về CMĐĐKD và giáo dục CMĐĐKD cho ND.

  • Phương pháp trừu tượng hóa khoa học

Luận án sử dụng phương pháp này để tạm thời gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những biểu hiện ngẫu nhiên, cá biệt để đi sâu luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề cơ bản thuộc đối tượng nghiên cứu. Cụ thể là luận án tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục CMĐĐKD cho ND nói chung ở thành phố Hà Nội, mà không đi vào nghiên cứu từng người ND cụ thể hoặc từng thành phần trong cơ cấu giai cấp ND ở Hà Nội.

  • Phương pháp nguyên tắc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học nói

chung. Luận án sử dụng phương pháp này để nghiên cứu quan điểm, tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin có liên quan; cập nhật quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; những trào lưu và xu hướng phát triển của thời đại, cũng như hệ thống tri thức của nhân loại về kinh tế và giáo dục chính trị – tư tưởng trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Mặt khác, đây là đề tài mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho nên luận án đặc biệt quan tâm đến vấn đề tổng kết thực tiễn về giáo dục CMĐĐKD cho ND TP Hà Nội, thông qua khảo sát thực tiễn, thu thập số liệu, điều tra xã hội học các đối tượng cần khảo sát.

  • Phương pháp điều tra xã hội học

Thông qua việc thiết kế và thực hiện các bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và lấy ý kiến chuyên gia, phương pháp này đã thu được phản hồi từ phía người ND, cán bộ quản lý các cấp ở địa phương và chuyên gia. Đây là cơ sở để tác giả thuyết minh các luận cứ đã được trình bày trong luận án. Cụ thể là tác giả đã tiến hành chọn mẫu gồm 199 phiếu điều tra bằng bảng hỏi đối với ND ở các huyện: Đông Anh, Thanh Trì, Phú Xuyên, Quốc Oai, Ba Vì, Sóc Sơn; 100 phiếu để điều tra cán bộ quản lý cấp xã, huyện của các địa phương nêu trên, cán bộ tuyên giáo, cán bộ Hội ND, cán bộ ngành nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Việc chọn mẫu và sử dụng phương pháp điều tra xã hội học đảm bảo yêu cầu khách quan, diện rộng để thu được kết quả chính xác và sát thực với thực trạng giáo dục CMĐĐKD

cho ND ở các địa phương nêu trên và trên địa bàn TP Hà Nội nói chung.

Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp logic, so sánh, thống kê số liệu, phân tích tài liệu trong nghiên cứu đề tài.

6.   Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề giáo dục CMĐĐKD XHCN cho ND. Những vấn đề lý luận về ĐĐKD, CMĐĐKD, các yếu tố cấu thành và sự cần thiết của giáo dục CMĐĐKD cho ND được luận bàn một cách tường minh và được phân tích thấu đáo. Đặc biệt luận án đã nhìn nhận, tiếp cận ĐĐKD như là yếu tố nội sinh của sự phát triển kinh tế; là điều kiện để nền kinh tế thị trường nước ta phát triển theo đúng định hướng XHCN và là một nội dung của quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bằng những nghiên cứu thực tiễn, luận án đã phân tích thành tựu và hạn chế của giáo dục CMĐĐKD cho ND TP Hà Nội trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập, qua đó phát hiện và khái quát, phân tích các mâu thuẫn của quá trình giáo dục CMĐĐKD cho ND; phân tích những luận cứ khoa học của các quan điểm, giải pháp tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội hiện nay.

Với những kết quả nghiên cứu, luận án góp phần giúp các cơ quan, tổ chức chính quyền, các cấp ủy Đảng của TP Hà Nội quan tâm, chăm lo hơn nữa tới công tác giáo dục CMĐĐKD cho ND. Thông qua một số giải pháp được đề xuất luận án góp phần định hướng những giá trị, chuẩn mực đạo đức trong SXKD đối với ND Hà Nội nói riêng và ND Việt Nam nói chung. Luận án còn có thể làm tài liệu nghiên cứu giảng dạy đạo đức học, đạo đức kinh doanh, khoa học công tác tư tưởng…

7.   Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo luận án gồm 3 chương, 8 tiết.

 

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

 

  1. Những nghiên cứu về đạo đức kinh doanh giáo dục đạo đức kinh doanh

1.1.     Về đạo đức kinh doanh

ĐĐKD không phải là một vấn đề mới xuất hiện trong thế giới đương đại, mà những tư tưởng của nó đã có từ rất lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, phân công lao động còn ở dạng sơ khai, trao đổi sản phẩm mới chỉ là bột phát do nhu cầu sinh tồn của các thành viên trong thị tộc, bộ lạc và nguyên tắc cùng làm cùng hưởng vẫn được con  người thực hiện một cách tự nhiên thì ĐĐKD chưa xuất hiện.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới phân công lao động đã tạo ra bốn nghề trong xã hội gồm: chăn nuôi, trồng trọt, thủ công, buôn bán. Sản phẩm trở thành tất yếu, sản phẩm do lao động làm ra trở thành hàng hóa, trao đổi sản phẩm là một tất yếu khách quan, lúc đó khái niệm kinh doanh xuất hiện và phạm trù ĐĐKD cũng ra đời. Đây cũng là thời kỳ mới của nhân loại, có mâu thuẫn đối kháng giai cấp, có bộ máy nhà nước, con người không sống “ngây thơ thuần phác” , quan hệ giữa con người với con người tất yếu dẫn tới yêu cầu đạo đức: không được trộm cắp, phải sòng ph ng trong giao thiệp, phải có chữ tín, biết tôn trọng các cam kết, thỏa thuận…

Như vậy, ĐĐKD không phải xuất phát từ sự “tiên nghiệm” , hay “chân lý tuyệt đối” vĩnh cửu. ĐĐKD ra đời cùng hoạt động kinh doanh, phát triển theo từng hình thái kinh tế – xã hội, thay đổi theo từng vùng dân cư, lãnh thổ, nhất là theo đặc điểm phương Tây và phương Đông.

Với tư cách là ngành khoa học, ĐĐKD mới chỉ xuất hiện từ nửa đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Người đầu tiên đưa ra khái niệm này là nhà nghiên cứu ĐĐKD nổi tiếng Norman Bowie. Ông định “ngày sinh” của ngành ĐĐKD học vào tháng 11 năm 1974, qua hội nghị đầu tiên về chủ đề ĐĐKD được tổ chức ở trường Đại học Kansas- Mỹ. Kết quả đạt được là một tuyển tập luận đề đầu tiên đã được dùng trong những khóa học mới về ngành này liên tục được mở ra. Năm 1979, ba tuyển tập tr

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN TOÀN BỘ BÀI VIẾT XIN QUÝ KHÁC LIÊN HỆ

Web: http://chuyenvietthueluanvan.com/

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline, ZALO: 0926.708.666

Leave Comments

0926708666
0926708666