MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT CHI NHÁNH NAM SÀI GÒN

CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT CHI NHÁNH NAM SÀI GÒN

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI, 2018

 

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn là một chi nhánh cấp I trực thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt. Trong những năm gần đây Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn cũng gặp phải rất nhiều khó khăn do hoạt động trên địa bàn thủ đô là trung tâm kinh tế chính trị của cả nước, tập trung nhiều Ngân hàng lớn và có sự cạnh tranh khốc liệt. Hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong  năm 2018 có dấu hiệu tăng trưởng chậm, xuất hiện những khoản nợ xấu, nợ khó và tiềm ẩn rủi ro khá lớn. Do vậy mà việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn chính là một trong những yêu cầu cấp bách để đảm bảo cho sự phát triển của chi nhánh.

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng và từ tình hình thực tế của Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài ” Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn” để hoàn thành luận văn Thạc sỹ quản trị kinh doanh của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nâng cao chất lượng tín dụng đối với một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường đã trở thành một vấn đề mà doanh nghiệp nào cũng quan tâm, đặc biệt là khi nền kinh tế của Việt Nam ngày càng hội nhập với kinh tế toàn cầu. Do đó vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng đã được nhiều hội thảo, sách, báo, tạp chí đề cập đến với nhiều khía cạnh, phạm vi và địa bàn khác nhau.

–           Bùi Thị Trâm (2013), đã có bài viết trình bày một cách khái quát các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho các ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Tác giả sử dụng các chỉ tiêu đánh giá và đo lường các tiêu chí trong việc huy động và sử dụng nguồn vốn vay của các ngân hàng thương mại, Thời báo kinh tế Việt Nam số 156, tr 4 -6.

–           Phạm Thị Lý (2008), tác giả đã đưa ra các lý luận về chất lượng tín dụng và đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng dài hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Thời báo kinh tế Việt Nam, số 21, tr.13-15.

–          Các công trình nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, các công trình nêu trên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về: Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn.

3. Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng ngân hàng.

Nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn.

Đề xuất và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn trong giai đoạn 2016 – 2018.

4.2. Phạm vi nghiên cứu 

Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn.

Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn trong các năm 2016 – 2018.

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu mô tả với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp, điều tra xã hội học thông qua phiếu điều tra và phân tích số liệu thu thập tại các phòng kế toán, phòng hành chính nhân sự và phòng kinh doanh trong Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt Chi nhánh Nam Sài Gòn.

Tiến hành phân tích thống kê miêu tả bằng kỹ thuật lập bảng, so sánh ngang , so sánh chéo các số liệu thu được, sắp xếp theo thứ tự các dữ liệu đã được thu thập, rút ra mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu đã thực hiện và đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu và các phương hướng làm cơ sở đưa ra giải pháp.

 

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1.1.      Những vấn đề chung về Ngân hàng thương mại

Tín dụng là hoạt động kinh tế ra đời từ rất sớm dưới hình thức cho vay nặng lãi trong điều kiện sản xuất thấp kém. Cùng với sự phát triển của xã hội, tín dụng đã có sự phát triển vượt bậc. Đến nay, hoạt động tín dụng là thành phần không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế của các tổ chức cũng như các quốc gia.

Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức kinh tế hoạt động độc lập và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua quá trình trao đổi mua bán để hình thành hệ thống kinh tế thống nhất. Dù ở hình thái kinh tế nào (phong kiến, tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa), mỗi tổ chức kinh tế cũng có lúc thừa, lúc thiếu vốn. Tuy nhiên khi đứng trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì tại một thời điểm nhất định sẽ có hiện tượng một nhóm tổ chức kinh tế có vốn tạm thời chưa sử dụng đến trong khi nhóm tổ chức kinh tế khác lại có nhu cầu bổ sung vốn để đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh… Đây là hiện tượng khách quan tồn tại ngay trong quá trình sản xuất, đồng thời nó cũng là mâu thuẫn trong quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn. Điều này đòi hỏi tín dụng là cầu nối giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn.

1.1.1.  Khái niệm hoạt động tín dụng ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, phần lớn nguồn tiền được giao dịch thông qua ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức, cá nhân trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Theo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung năm 2004, “cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”(Phan Thị Cúc, 2008).

1.1.2. Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng

Hoạt động tín dụng hiện nay mang lại phần lợi nhuận lớn nhất cho các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, lợi nhuận trong hoạt động tín dụng lại gắn liền với chất lượng tín dụng, Vậy chất lượng tín dụng là gì?

Khi nói đến chất lượng người ta thường nghĩ đến chất lượng của hàng hoá và dịch vụ thông thường. Đó là sự đáp ứng các yêu cầu của khách hàng về tính năng kỹ thuật và tính kinh tế (thể hiện ở chi chí có được sản phẩm, chi phí để sử dụng sản phẩm và hiệu quả sử dụng sản phẩm).

 

1.1.3. Các hình thức tín dụng ngân hàng CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

Tùy theo các căn cứ phân chia khác nhau mà tín dụng được chia thành các loại chính như sau:

1.1.3.1. Căn cứ vào thời hạn cho vay

Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Loại hình cho vay này thường được các doanh nghiệp sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh, các cá nhân sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của mình.

Cho vay dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm, trong một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm. Loại hình cho vay này thường được áp dụng với cho vay đầu tư các dự án có thời hạn dài như xây dựng các công trình thủy điện, xây dựng mở rộng nhà xưởng, cho vay mua nhà (Nguyễn Đăng Dờn, 2012).

1.1.3.2. Căn cứ vào mục đích cho vay

Cho vay bất động sản: là loại hình cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ.

Cho vay chứng khoán: là loại hình cho vay nhằm mục đích đầu tư (mua, bán, kinh doanh) chứng khoán.

Cho vay xuất khẩu: cho vay vốn để tiến hành các hoạt động thu mua vật tư, hàng hóa nội địa, sơ chế các sản phẩm nguyên vật liệu thô… nhằm mục đích xuất khẩu hàng hóa ra sang các thị trường khác.

1.1.3.3. Căn cứ vào đối tượng cho vay

Cho vay doanh nghiệp: đối tượng vay vốn là các doanh nghiệp, bao gồm nhưng không giới hạn bởi các doanh nghiệp nhà nước, cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Cho vay cá nhân: là loại hình cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền (ô tô, nhà cửa…), trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.

1.1.3.4. Căn cứ vào loại tiền cho vay

Cho vay đồng nội tệ: là việc người đi vay nhận nợ bằng đồng Việt Nam. Đây là hình thức vay vốn thường chiếm tỷ trọng lớn tại các ngân hàng thương mại.

Cho vay ngoại tệ: là hình thức vay vốn mà người đi vay nhận nợ bằng các loại ngoại tệ như đồng Bảng Anh, đồng Đô la Mỹ, đồng Euro, Yên Nhật….

1.1.3.5. Căn cứ vào các biện pháp bảo đảm tiền vay

Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: bất động sản (quyền sử dụng đất ở, nhà ở, công trình xây dựng, các tài sản gắn liền với đất đai, công trình xây dựng), động sản (dây chuyền máy móc thiết bị, ô tô,… ), các giấy tờ có giá (trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm do các tổ chức tín dụng phát hành), một số quyền và lợi ích (quyền góp vốn mua cổ phần, quyền thụ hưởng bảo hiểm, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp…), tài sản hình thành từ vốn vay. Tài sản này có thể là tài sản của bên vay, hoặc tài sản của bên thứ ba.

1.1.4. Vai trò của tín dụng đối phát triển kinh tế CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

a, Chất lượng tín dụng đối với phát triển của nền kinh tế – xã hội

Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tín dụng đã có những đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để thúc đẩy tiến trình phát triển của xã hội. Lịch sửđã chứng minh điều đó thông qua sự ra đời và phát triển xã hội loài người qua các hình thái kinh tế xã hội.

–           Chất lượng tín dụng tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân: là cầu nối giữa tiết kiệm vàđầu tư, tín dụng góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế. Tăng cường chất lượng tín dụng sẽ giảm thiểu lượng tiền thừa trong lưu thông. Điều đó không chỉ giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế mà còn tạo điều kiện để mở rộng phạm vi thanh toán không dùng tiền mặt, từđó tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, góp phần vào việc điều hoà vàổn định lưu thông tiền tệ.

b, Chất lượng hoạt động tín dụng đối với sự tồn tại và phát triển của các NHTM

–           Chất lượng tín dụng làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các NHTM do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín dụng và thu hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra một hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của ngân hàng và sự trung thành của khách hàng;

–           Chất lượng tín dụng gia tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm chễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn đã cho vay và yêu cầu kiểm tra tối thiểu;

 

1.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại

– Nhóm 1(Các khoản cho vay dưới mức tiêu chuẩn): mức độ an toàn của ngân hàng không được đảm bảo do sự giảm sút trong giá trị tài sản thế chấp hay trong năng lực hoàn trả của người vay.

– Nhóm 2 (Các khoản cho vay đáng ngờ) có nhiều khả năng chúng mang lại tổn thất cho ngân hàng.

– Nhóm 3 ( Các khoản cho vay không thể thu hồi được)

Các thanh tra sẽ nhân toàn bộ các khoản cho vay dưới mức tiêu chuẩn với 0,2; các khoản cho vay đáng ngờ với 0,5; và các khoản cho vay không thu hồi với 1,0. Sau đó tính tổng và so sánh kết quả với quy mô dự phòng tổn thất tín dụng và vốn chủ sở hữu. Nếu tổng các khoản cho vay nguy hiểm đã quy đổi tương đối lớn so với dự phòng tổn thất tín dụng và nguồn vốn chủ sở hữu thì thanh tra ngân hàng sẽ yêu

CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

TRUNG TÂM LUẬN VĂN MBA-VIP VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ & TIẾN SĨ CHẤT LƯỢNG CAO.

Để biết nội dung toàn bộ bài viết xin bạn liên hệ với chúng tôi:

  • Hotline: 0926.708.666
  • Zalo: 0926.708.666.

Email:Lamthueluanvan2014@gmail.com

 

Tải toàn bộ bài: DOWNLOAD

 

Leave Comments

0926708666
0926708666