NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO PHÓNG VIÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                            HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

 

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO PHÓNG VIÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

LUẬN ÁN  BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI – 2017

 

Chương 1:

SỞ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO PHÓNG VIÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

 

1.1.  Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu

  • Chất lượng đào tạo

Hồ Chí Minh đã chỉ ra yêu cầu của từng cấp học, trong đó có bậc Đại học là: “Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành. Ra sức học tập lý luận khoa học tiên tiến của nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà” [109 , t.203].

Tại Hội thảo khoa học Đảm bảo chất lượng năm 2012 của ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia TP HCM, TS. Huỳnh Quốc Thắng (Khoa Văn hóa học) cho rằng, “chất lượng đào tạo tại trường được khẳng định qua việc mục tiêu đào tạo phản ánh đúng và đáp ứng kịp các nhu cầu xã hội, đặc biệt là nhu cầu về nhân lực để góp phần xây dựng đời sống văn hóa-xã hội và nền chính trị-kinh tế của đất nước”[80 , t.1].

Trong một nghiên cứu về Những quan niệm về chất lượng giáo dục đại học [59 ], tác giả Lê Hữu Nghĩa đã tổng hợp những nghiên cứu của một số học giả trên thế giới về Chất lượng giáo dục đại học như “Chất lượng là sự vượt trội” (Địa vị của trường đại học và mức độ khó xin học được xem là điều kiện quan trọng của chất lượng); “Chất lượng là sự hoàn hảo” (Quan niệm này được xem như việc tạo ra sản phẩm không “tì vết”); “Chất lượng là phù hợp với mục tiêu” (Xem xét chất lượng trong mối quan hệ tương quan với mục tiêu của một trường đại học); “Chất lượng là đánh giá tiền đầu tư” (Chất lượng theo quan niệm này chỉ đạt được khi vai trò của kiểm định được thực thi triệt để); “Chất lượng là vượt ngưỡng” (tức là nhà trường phải vượt qua một ngưỡng đặt ra với những chuẩn mực cụ thể); “Chất lượng là sự biến đổi” (Cái khó là trường học không biết đích xác sinh viên đã biến đổi tới đâu).

Dẫn giải từ định nghĩa về Chất lượng mà nhiều nhà phân tích và hoạch định chính sách giáo dục chấp nhận (Chất lượng là sự trùng khớp với mục đích (finess

 

 

 

for purpose), GS. TSKH. Lâm Quang Thiệp cho rằng, “một khoá đào tạo của một trường đại học là có chất lượng phù hợp nếu nó tuân thủ các tiêu chuẩn xác định hoặc đạt được mức độ nào đó của mục đích thiết kế” [100 ,t. 130].

Qua các nghiên cứu nêu trên cho thấy, Chất lượng đào tạo là một khái niệm động, không thể có một khái niệm tuyệt đối (đúng cho mọi đối tượng), vì nó phụ thuộc vào đặc trưng, điều kiện và quan điểm của mỗi chủ thể. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, tác giả sử dụng khái niệm Chất lượng đào tạo là mức độ phù hợp với mục tiêu đào tạo đã đề ra, đáp ứng nhu cầu xã hội. Khái niệm này cũng gần gũi với khái niệm được ngành Giáo dục Việt Nam sử dụng: “Chất lượng giáo dục” là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của cơ sở giáo dục, đáp ứng các yêu cầu của Luật giáo dục, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và cả nước.” (Thông tư số: 62/2012/TT- BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

  • Phóng viên truyền hình
    • Phóng viên

Theo tác giả Lê Thị Nhã, “Phóng viên là một lực lượng chuyên môn quan trọng trong tòa soạn, có nhiệm vụ thu thập thông tin để sáng tạo ra các tác phẩm báo chí… . Phóng viên là những chủ thể sáng tạo tích cực, chuyên sản xuất ra những sản phẩm đầu tiên trong guồng máy báo chí. Hoạt động nghiệp vụ của họ là cơ sở đầu tiên thúc đẩy mọi hoạt động của tòa soạn. Những tin, bài bắt đầu từ sự sáng tạo của phóng viên, chính là “nguyên liệu” cho một số bộ phận khác hoạt động.” [63 ,t.58-60]

Trong cuốn “Thông tấn báo chí – Lý thuyết và kỹ năng”, các tác giả cho rằng “Phóng viên là người chuyên đi săn tin để viết bài, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, phản ánh bức tranh chân thực của hiện thực khách quan cho công chúng” [54 ,t.10].

Theo thông tư liên tịch số: 11/2016/TTLT-BTTTT-BNV ngày 7/4/2016 của Bộ Thông tin Truyền thông và Bộ Nội vụ, phóng viên được phân thành 3 hạng với các nhiệm vụ sau:

 

 

 

  • Phóng viên hạng I:
    • Chủ trì xây dựng kế hoạch, kịch bản các tác phẩm báo chí;
    • Tổ chức chỉ đạo và thực hiện viết, chụp ảnh, quay phim các thể loại báo chí có nội dung tổng hợp, chủ đề lớn thuộc nhiều lĩnh vực có độ phức tạp cao hơn;
    • Viết bình luận, xã luận có nội dung liên quan đến trong nước và thế giới;
    • Biên tập, xét duyệt tin bài trước khi đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung các tin, bài đó;
    • Tổ chức và củng cố mạng lưới thông tin viên, cộng tác viên thuộc nhiệm vụ được phân công;
    • Chuẩn bị nội dung trao đổi nghiệp vụ báo chí trong nước và quốc tế;
    • Xây dựng Mục tiêu, chương trình, tư liệu và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho các hạng phóng viên thấp hơn;
    • Tham gia hội đồng xét duyệt chuyển hoặc thăng hạng chức danh nghề nghiệp cho phóng viên hạng dưới.
  • Phóng viên hạng II:
    • Xây dựng kế hoạch, đề cương, phát hiện nêu chủ đề tin bài theo phân công;
    • Tổ chức thực hiện và viết, chụp ảnh, quay phim tin, bài đạt chất lượng khá và chịu trách nhiệm cá nhân về tác phẩm báo chí của mình;
    • Phát hiện và đề xuất được các vấn đề để xây dựng kế hoạch biên tập;
    • Viết bài bình luận có nội dung phức tạp trung bình;
    • Phát hiện và giới thiệu thông tin viên, hướng dẫn cộng tác viên viết theo đề cương đã duyệt;
    • Tham gia biên soạn chương trình, tài liệu và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho viên chức hạng dưới;

 

 

 

  • Tham gia chuẩn bị nội dung và trao đổi nghiệp vụ báo chí trong nước và ngoài nước.
  • Phóng viên hạng III:
    • Xây dựng đề cương, thực hiện viết tin, bài theo phân công và hướng dẫn của trưởng ban biên tập;
    • Viết, chụp ảnh và quay phim các loại tin, phóng sự, điều tra có nội dung phức tạp trung bình và chịu trách nhiệm cá nhân về tác phẩm báo chí của mình;
    • Tổ chức làm việc với thông tin viên, giao dịch đặt viết tin, bài theo đề cương đã được duyệt.

Như vậy, nhiệm vụ tối thiểu phóng viên cần đáp ứng là có kỹ năng sáng tạo các tác phẩm báo chí cơ bản phản ánh cuộc sống với nội dung phức tạp trung bình trở lên. Đồng thời, biết tổ chức mạng lưới thông tin viên, đặt viết tin bài.

Trong cuốn “Thông tấn báo chí – Lý thuyết và kỹ năng”, các tác giả cho rằng: “Nhà báo là người làm công tác báo chí chuyên nghiệp gồm: phóng viên, biên tập viên, họa sĩ thiết kế mỹ thuật, thư ký tòa soạn, tổng biên tập, phó tổng biên tập, tổng giám đốc các đài phát thanh, truyền hình, các trưởng ban nghiệp vụ báo chí và cán bộ giảng dạy chuyên ngành báo chí tại các trường đại học…” [54 ,t.9].

Trong cuốn Thuật ngữ Báo chí – Truyền thông, Nhà báo “là người làm việc một cách sáng tạo, có tính độc lập tương đối, được biên chế trong một cơ quan, tổ chức truyền thông nào đó, với tư cách là phóng viên chuyên nghiệp hoặc biên tập viên”[42 ,t.126].

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, không phải nhà báo nào cũng làm báo chuyên nghiệp. Có nhiều nhà báo được cấp thẻ nhưng họ là những nhà nghiên cứu và giảng dạy báo chí; những nhà khoa học trong lĩnh vực khác nhưng thường xuyên tham gia sản xuất các tác phẩm báo chí. Theo PGS,TS. Đinh Văn Hường, khái niệm Nhà báo là “gọi chung những người hoạt động trong lĩnh vực báo chí hay truyền thông đại chúng như phóng viên, biên tập viên, bình luận

 

 

 

viên, quản lãnh đạo báo chí, nghiên cứu và giảng dạy báo chí…” [45 ,t. 67-68].

Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, (PGS. TS. Nguyễn Văn Dững, Nxb Lao động, 2012), sau khi dẫn giải các cách hiểu khác nhau từ lý luận đến thực tiễn nghề nghiệp và từ các bình diện khác nhau, tác giả kết luận: Nhà báo “ người tham gia một trong các loại hình lao động báo chí của quá trình thu thập, xử lí và chuyển tải thông tin cho công chúng xã hội; đó là lao động tổ chức – quản lý (ở nước ta là bao gồm tổ chức quản lý vĩ mô và vi mô), lao động biên tập, lao động tác giả, lao động kỹ thuật – dịch vụ trong báo chí. Nhà báo là chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí, chịu trách nhiệm trước pháp luật và dư luận xã hội về những thông tin mà họ cung cấp cho công chúng xã hội, trên cả hai bình diện pháp lí và đạo đức” [17 ,t.300-301].

Qua những khái niệm nêu trên và xét từ thực tiễn nghề nghiệp, có thể thấy, khái niệm Phóng viên nằm trong nội hàm của khái niệm Nhà báo và vì thế, rất khó phân biệt nếu xét về mặt hình thức. Tuy nhiên, cần có sự rạch ròi về khái niệm để xác định đối tượng nghiên cứu. Xét từ góc độ lao động nghề nghiệp và đặc điểm lao động sáng tạo, tác giả nhận diện Phóng viên là người thu thập và xử lý thông tin, chuyển tải thông tin một cách có trách nhiệm đến công chúng xã hội. Xét về vị trí và vai trò trong cơ quan báo chí, tác giả nghiên cứu đối tượng Phóng viên không phải là những nhà quản lý trong cơ quan báo chí, không làm công tác biên tập và không phải là những nhà nghiên cứu khoa học, giảng dạy báo chí trong các cơ sở đào tạo. Họ chiếm số đông và là lực lượng chủ công đưa thông tin về cơ quan báo chí.

Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng khái niệm Phóng viên người thu thập và xử lý thông tin đầu nguồn, sáng tạo ra các tác phẩm phản ánh hiện thực cuộc sống và đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

  • Phóng viên truyền hình

Khi bàn về phóng viên truyền hình, G.V.Cudơnhetxốp viết: “Thực chất của nghệ thuật nghiệp vụ của phóng viên quy tụ vào 3 thành tố: 1) Cùng với phương

 

 

 

tiện kỹ thuật quay phim có mặt vào lúc diễn ra điều gì đó có ý nghĩa chung, được mọi người quan tâm. 2) Cùng với người quay phim tiến hành lựa chọn, ghi nhận, xây dựng một loạt hình ảnh để khán giả quan niệm rõ ràng về những gì đang diễn ra. 3) Gắn kèm theo hình ảnh bằng một câu chuyện ngắn gọn làm rõ thực chất của những sự kiện được nhìn thấy” [22 , t.140-141]. Xét trong quá trình tác nghiệp, phóng viên công tác trong các loại hình báo chí khác nhau sẽ có lao động tác giả khác nhau. Một trong những yếu tố quan trọng chi phối hoạt động này là đặc trưng của từng loại hình báo chí. Xuất phát từ khái niệm “Phóng viên” và từ thực tiễn nghề nghiệp, có thể nhận diện sự khác nhau giữa phóng viên của các loại hình báo chí qua quá trình tác nghiệp như sau:

  • Giai đoạn thu thập thông tin, phóng viên truyền hình đã thể hiện quá trình tác nghiệp khác hẳn bởi sự chi phối của:

+ Phương tiện kỹ thuật: Sản phẩm cuối cùng là để phát sóng trên đài/kênh truyền hình nên thông tin phải được ghi lại bằng hình ảnh qua các phương tiện kỹ thuật ghi hình (máy ghi hình – camera). Họ phải xác định rõ thông tin thu thập để sử dụng chủ đạo trên truyền hình là hình ảnh. Vì vậy, những hình ảnh ghi lại phải hàm chứa thông tin về sự kiện.

+ Có sự phối hợp của các thành viên khác trong nhóm sản xuất để thực hiện nhiệm vụ (ê-kíp sản xuất): Giai đoạn thu thập thông tin của phóng viên truyền hình còn phải gắn với quá trình lao động của những chức danh khác, điển hình là quay phim. Đó là điểm khác với phóng viên của các loại hình báo chí khác. Ở đây sẽ đòi hỏi kỹ năng làm việc theo nhóm của phóng viên truyền hình. Mặt khác, thực tế một số đài/kênh truyền hình lại không sử dụng chức danh quay phim ở giai đoạn này. Trong trường hợp đó, yêu cầu đối với phóng viên truyền hình rõ ràng sẽ cao hơn, nặng nề hơn khi họ phải đảm nhiệm thêm công việc của chức danh quay phim.

  • Quá trình xử lý thông tin: Mặc dù cùng hướng tới việc thông tin về bản chất của sự kiện nhưng việc xử lý thông tin để chuyển thành tác phẩm báo chí cụ thể của phóng viên truyền hình có sự khác biệt với các loại hình báo chí khác:

 

 

 

+ Sự khác nhau về chất liệu tạo nên tác phẩm: Chất liệu để chuyển tải thông tin của phóng viên truyền hình là hình ảnh động (đồng bộ với âm thanh) ghi tại hiện trường. Xét từ lợi thế của truyền hình, bên cạnh lời bình, chất liệu đó còn là những ảnh tĩnh, bảng biểu, biểu đồ, đồ họa… . Công việc của phóng viên truyền hình là phải sử dụng linh hoạt các chất liệu này để sáng tạo tác phẩm nhằm mục đích phác họa hiện thực cuộc sống một cách chính xác, rõ ràng, dễ hiểu nhất. Tư duy hình ảnh là đòi hỏi bắt buộc đối với họ.

+ Sự khác nhau về quy trình sáng tạo các tác phẩm báo chí trên truyền hình: Tác phẩm báo chí là hình thức biểu đạt nội dung thông tin. Về mặt hình thức, quy trình để viết một tin cho báo in, báo phát thanh, báo mạng điện tử rõ ràng khác hẳn với một tin sử dụng trên truyền hình. Điều này sẽ chi phối kỹ năng tác nghiệp của phóng viên truyền hình trong quá trình tạo dựng nên tác phẩm (trong đó có cả đặc trưng về ngôn ngữ trên truyền hình).

+ Sự khác nhau về ê-kíp sản xuất: Để tạo dựng và hoàn thiện tác phẩm báo chí, giai đoạn này phóng viên truyền hình phải phối hợp với kỹ thuật viên hậu kỳ. Đây là chức danh giúp phóng viên truyền hình thực hiện công việc: Dựng hình; tạo bảng biểu, biểu đồ; tạo đồ họa 2D, 3D… . Nếu càng sử dụng những chất liệu đòi hỏi yếu tố kỹ thuật hiện đại, chắc chắn phóng viên truyền hình phải phối hợp với chức danh khác. Nếu chỉ cần dừng ở mức độ dựng kết nối các hình ảnh và thể hiện lời bình, nhiều phóng viên đã tự thực hiện được công đoạn này. Nó phụ thuộc vào yêu cầu của từng đài/kênh truyền hình.

Phát triển khái niệm “Phóng viên” và từ thực tiễn nghề nghiệp, tác giả sẽ sử dụng khái niệm: Phóng viên truyền hình là người thu thập thông tin đầu nguồn, cùng với các chức danh khác trong quy trình sản xuất sử dụng các thiết bị chuyên dụng để xử lý thông tin với chất liệu hình ảnh chủ đạo nhằm sáng tạo ra các tác phẩm báo chí truyền hình phản ánh hiện thực cuộc sống và phát sóng trên đài truyền hình.

  • Chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình

Tác giả sử dụng khái niệm: “Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu đào tạo đã đề ra, đáp ứng nhu cầu xã hội”. Về mặt lý thuyết, mục tiêu đào tạo

 

 

 

thấp hơn nhu cầu xã hội, cơ sở đào tạo có thể đạt được chất lượng mà tự mình đề ra nhưng không đáp ứng được nhu cầu sử dụng nhân lực. Mặt khác, khi mục tiêu đặt ra cao hơn so với điều kiện thực hiện của cơ sở đào tạo, dù sinh viên tốt nghiệp nhưng chất lượng đào tạo cũng không thỏa mãn nhu cầu xã hội. Như vậy, chất lượng đào tạo được đo bằng chính sự thỏa mãn nhu cầu xã hội và nhu cầu đó được thể hiện qua mục tiêu đào tạo. Trong khi đó, nhu cầu xã hội không phải ở trạng thái tĩnh. Nó luôn luôn thay đổi theo chiều hướng tăng lên, nhất là trong bối cảnh tri thức con người phát triển mạnh mẽ. Những phát minh, sáng tạo mới có tác động không nhỏ tới lĩnh vực truyền hình và trở thành áp lực đối với các cơ sở đào tạo báo chí. Vì vậy, mục tiêu đào tạo cũng phải thay đổi theo.

Truyền hình không chỉ tiếp cận với khán giả theo cách truyền thống. Những ứng dụng đa nền tảng là con đường phát triển tương lai của loại hình báo chí này. Vì thế, quá trình tác nghiệp của phóng viên truyền hình cũng có những cập nhật mới về kỹ năng. Thực tiễn này cần được cập nhật vào chương trình học tập và sinh viên phải được rèn luyện một cách có hệ thống, bài bản trong một thời gian nhất định. Đó là quá trình biến đổi nhận thức từ thấp đến cao nhằm đáp ứng được yêu cầu công việc.

Như vậy, vấn đề đặt ra là mục tiêu đào tạo phóng viên truyền hình đã phù hợp với nhu cầu của thực tiễn hay chưa? Ở đây có mối quan hệ hai chiều, bởi xác định đúng mục tiêu đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội nhưng cơ sở đào tạo có những điều kiện gì để thực hiện mục tiêu? Hoạt động đào tạo phóng viên truyền hình được thực hiện như thế nào?

Thỏa mãn được nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội, điển hình là của các đài/kênh truyền hình là câu trả lời đúng nhất về chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình. Qua các nghiên cứu về khái niệm Chất lượng đào tạo và khái niệm Phóng viên truyền hình nêu trên, tác giả sử dụng khái niệm: Chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình là mức độ phù hợp với mục tiêu đào tạo phóng viên truyền hình đã đề ra, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Nâng cao là làm cho kết quả đạt được ở mức tốt hơn. Theo quan điểm của tác giả, “Nâng cao chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình” là làm cho chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình tốt hơn trước, luôn phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực. Muốn vậy, cần xác định mục tiêu đào tạo phóng viên truyền hình sát với thực tiễn tại các đài truyền hình, từ đó chi phối các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo. Xem xét, đánh giá các yếu tố này trong quy trình đào tạo nhằm tìm ra những ưu điểm để phát huy, những hạn chế để loại bỏ và bổ sung những nội dung mới làm cho chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình đáp ứng mục tiêu đào tạo đã đề ra. Do đó, cần xác định đúng, trúng yêu cầu đối với phóng viên truyền hình trong bối cảnh hiện nay, làm cơ sở xây dựng mục tiêu và chuẩn đầu ra trong đào tạo chức danh này.

1.2.  Triết lý giáo dục trong đào tạo phóng viên truyền hình

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN TOÀN BỘ BÀI VIẾT XIN QUÝ KHÁC LIÊN HỆ

Web: http://chuyenvietthueluanvan.com/

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline, ZALO: 0926.708.666

Leave Comments

0926708666
0926708666