Hệ thống thông tin kế toán quỹ BHYT tại cơ quan BHXH Việt Nam

MỤC LỤC

 

 

 

LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN MỤC LỤC

KÝ HIỆU VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC HÌNH DANH MỤC SƠ ĐỒ DANH MỤC PHỤ LỤC

 

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU…………………………………… 1

Tóm tắt chương I…………………………………………………………………………………………….. 24

CHƯƠNG II:   LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP………………………………………………………………….. 25

Tóm tắt chương II……………………………………………………………………………………………. 59

CHƯƠNG  III:  KHẢO  SÁT  THỰC  TRẠNG  HTTTKT  QUỸ  BHYT  TẠI BHXHVN……………………………………………………………………………………………………………………….. 60

Tóm tắt chương III………………………………………………………………………………………… 100

CHƯƠNG IV: LUẬN BÀN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUỸ BHYT TẠI BHXHVN……………………………………………………………………………………………………………………… 101

KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………………… 130

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ………………………………. 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………………………… 134

PHỤ LỤC……………………………………………………………………………………………………… 139

 

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

 

 

 

ASXH                                    An sinh xã hội

 

BCTC                                    Báo cáo tài chính

 

BHTN                                    Bảo hiểm thất nghiệp

 

BHXH                                   Bảo hiểm xã hội

 

BHXHVN                             Bảo hiểm xã hội Việt Nam

 

BHYT                                    Bảo hiểm y tế

 

CNTT                                     Công nghệ thông tin

 

CSDL                                    Cơ sở dữ liệu

 

ĐVSDLĐ                              Đơn vị sử dụng lao động

 

HCSN                                    Hành chính sự nghiệp

 

HTTT                                     Hệ thống thông tin

 

HTTTKT                                Hệ thống thông tin kế toán

 

KCB                                      Khám chữa bệnh

 

LĐ TBXH                             Lao động thương binh xã hội

 

NSNN                                    Ngân sách nhà nước

 

NTGBH                                 Người tham gia bảo hiểm

 

TSCĐ                                     Tài sản cố định

 

UBND                                   Ủy ban nhân dân

 

XHCN                                   Xã hội chủ nghĩa

 

SNCL                                    Sự nghiệp công lập

 

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Báo cáo Thu-Chi  quỹ BHXH, BHYT…………………………………………………… 62

Bảng 3.2: Kết quả khảo sát trình độ và công việc của kế toán…………………………………. 67

Bảng 3.3: Kết quả khảo sát số lượng cán bộ giám định BHYT………………………………… 68

Bảng 3.4: Các phần mềm sử dụng tại BHXHVN………………………………………………….. 71

Bảng 3.5: Kết quả khảo sát sự liên thông phần mềm VSA với phần mềm chi phí KCB tại bệnh viện………………………………………………………………………………………………………… 72

Bảng 3.6: Kết quả khảo sát độ tương thích giữa phần mềm viện phí với phần mềm thanh toán chi phí KCB tại các cơ sở KCB………………………………………………………………… 73

Bảng 3.7: kết quả khảo sát phần mềm tại BHXH tỉnh, thành phố và quận huyện………. 76

Bảng 3.8: kết quả khảo sát về mạng lưới tại BHXHVN và cơ sở KCB……………………. 78

Bảng 3.9: Kết quả khảo sát về tính bảo mật thông tin tại BHXHVN……………………….. 80

Bảng 3.10: Kết quả khảo sát dữ liệu tại BHXHVN……………………………………………….. 85

Bảng 3.11: Kết quả khảo sát quy trình chi BHYT tại BHXHVN…………………………….. 92

Bảng 3.12: Kết quả khảo sát quy trình chi BHYT………………………………………………….. 94

Bảng 3.13: Kết quả khảo sát về kiểm soát tại BHXHVN……………………………………….. 98

 

DANH MỤC HÌNH

 

 

 

Hình 3.1:  Mức tự động hóa của quy trình thanh toán ốm đau thai sản…………………….. 91

Hình 3.2:  Mức tự động hóa hiện tại của quy trình chi trả chế độ…………………………….. 91

 

 

 

DANH MỤC SƠ ĐỒ

 

 

 

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa BHXHVN, cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT……… 3

Sơ đồ 2.1: Các yếu tố cấu thành một hệ thống thông tin………………………………………… 26

Sơ đồ 2.2 . Các yếu tố cấu thành của HTTT xét ở trạng thái tĩnh……………………………. 27

Sơ đồ 2.3: Mô hình của Delone and McLean (1992)……………………………………………… 33

Sơ đồ 2.4: Trình tự nhập số liệu vào phần mềm kế toán………………………………………….. 51

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ kết nối phần mềm VSA giữa tỉnh và huyện…………………………………. 74

Sơ đồ 3.2: Quy trình quyết toán chi phí KCB BHYT……………………………………………. 89

Sơ đồ 4.1: Mối quan hệ giữa các bên tham gia quỹ BHYT……………………………………. 110

Sơ đồ 4.2: Sơ đồ cấu hình máy chủ tại BHXHVN………………………………………………. 113

Sơ đồ 4.3: Sơ đồ mô hình phần mềm BHXH, BHYT………………………………………….. 115

Sơ đồ 4.4:  Thu BHXH và BHYT……………………………………………………………………… 120

Sơ đồ 4.5: Sơ đồ liên thông các phòng ban tài chính kế toán với ban thu BHYT và ban chi BHYT……………………………………………………………………………………………………… 122

Sơ đồ 4.6: Sơ đồ quản lý chi phí KCB……………………………………………………………….. 123

 

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Danh sách người được phỏng vấn………………………………………………………. 140

Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn sâu trong nghiên cứu định tính…………………………………… 141

Phụ lục 3. Phiếu khảo sát tại BHXH Việt Nam……………………………………………………. 143

Phụ lục 4a: Bảng phỏng vấn cán bộ chủ chốt phòng công nghệ thông tin tại BHXH trung ương 157

Phụ lục 4b: Bảng phỏng vấn cán bộ chủ chốt phòng công nghệ thông tin tại BHXH các tỉnh, thành phố………………………………………………………………………………………………………. 158

Phụ lục 5: Bảng khảo sát tại các bệnh viện………………………………………………………….. 160

Phụ lục 6: Bảng khảo sát đối tượng hưởng BHYT………………………………………………. 163

Phụ lục 7: Danh sách các tỉnh trong mẫu nghiên cứu……………………………………………. 165

Phụ lục 8: Sơ đồ tổ chức bộ máy hệ thống ở BHXHVN………………………………………. 168

Phụ lục 9: Kết quả khảo sát cán bộ kế toán theo chuyên môn tại BHXH các cấp…….. 169

Phụ lục 10: Khảo sát trình độ học vấn của cán bộ kế toán…………………………………….. 170

Phụ lục 11: Kết quả thu thập phiếu điều tra…………………………………………………………. 170

Phụ lục 12. Thống kê mô tả mẫu theo giới tính……………………………………………………. 171

Phụ lục 13. Thống kê mô tả mẫu theo tuổi đời…………………………………………………….. 171

Phụ lục 14:  Thống kê mô tả mẫu theo vị trí công việc………………………………………….. 171

Phụ lục 15: Thống kê mô tả mẫu theo thâm niên công tác…………………………………….. 172

Phụ lục 16: Thống kê mô tả mẫu theo cấp quản lý……………………………………………….. 172

Phụ lục 17: Thống kê mô tả mẫu theo miền…………………………………………………………. 172

Phụ lục 18: Bảng phân tích dữ liệu khảo sát tại BHXHVN…………………………………… 173

Phụ lục 19: Pảng phân tích dữ liệu phỏng vấn tại phòng CNTT tại BHXH các tỉnh, thành phố   189

Phụ lục 20: Bảng phân tích dữ liệu khảo sát tại bệnh viện…………………………………….. 190

Phụ lục 21: Bảng phân tích dữ liệu khảo sát đối tượng hưởng BHYT……………………. 193

Phụ lục 22: Sơ đồ quy trình xử lý nghiệp vụ kinh tế trên phần mềm VSA………………. 195

Phụ lục 23: Sơ đồ quy trình Thu BHYT của người Lao động tham gia BHYT bắt buộc tại các đơn vị sử dụng lao động……………………………………………………………………………… 196

Phụ lục 24: Sơ đồ quy trình thu BHYT học sinh, sinh viên……………………………………. 197

 

Phụ lục 25: Sơ đồ quy trình thu BHYT được NSNN hỗ trợ 100% kinh phí…………….. 198

Phụ lục 26: Sơ đồ kế toán tạm thu các loại bảo hiểm và lãi chậm đóng bảo hiểm……… 199

Phụ lục 27: Sơ đồ kế toán phải thu BHYT………………………………………………………….. 200

Phụ lục 28: Sơ đồ kế toán thanh toán về thu BH giữa BHXH tỉnh và BHXH huyện. 201 Phụ lục 29a: Kế toán chi BHYT…………………………………………………………………………………………… 202

Phụ lục 29b: Kế toán chi BHYT (Tiếp)………………………………………………………………. 203

Phụ lục 29c: Kế toán chi BHYT (Tiếp)……………………………………………………………….. 204

Phụ lục 30: Sơ đồ kế toán thanh toán về chi KCB đa tuyến………………………………….. 205

Phụ lục 31: Sơ đồ kế toán thanh toán về chi BHYT giữa trung ương với tỉnh…………. 206

Phụ lục 32: Kế toán thanh toán về chi BHYT giữa tỉnh với huyện…………………………. 207

Phụ lục 33: Sơ đồ kế toán thanh toán về chi BHYT giữa tỉnh với huyện………………… 208

Phụ lục 34: Sơ đồ kế toán quỹ KCB…………………………………………………………………… 209

Phụ lục 35: Giải thích các ký hiệu trong sơ đồ 4.4; 4.5; 4.6…………………………………… 210

 

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1.     Lý do chọn đề tài

BHYT là một loại bảo hiểm trong hệ thống BHXHVN. BHYT là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những loại hình BHXH mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân. Tuy nhiên, do sự phân cấp quản lý phức tạp, sự thay đổi cơ quan và cơ chế quản lý quỹ BHYT (trước đây cơ quan chủ quản là Bộ y tế nay chuyển sang cơ quan BHXH Việt Nam). Hình thức thu BHYT được nới rộng, từ 1/1/2014, nhà nước tiến tới thực hiện BHYT toàn dân. Nhiều loại hình đối tượng tham gia: người lao động, học sinh, sinh viên, đối tượng chính sách xã hội, người có nhu cầu tự nguyện tham gia. Mỗi đối tượng có đặc điểm và định mức chi trả khác nhau. Quá trình thu, chi BHYT là sự kết hợp giữa đối tượng nộp và thụ hưởng BHYT; đơn vị, tổ chức quản lý đối tượng thụ hưởng; đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ y tế và thanh toán BHYT; cơ quan BHXH, đơn vị thực hiện nhiệm vụ của nhà nước tham gia thu, chi, quyết toán BHYT cho đối tượng thụ hưởng. Thủ tục thanh toán thông qua các mối quan hệ này còn nhiều bất cập dẫn đến việc thất thoát, chi không đúng mục đích quỹ BHYT làm cho lòng tin của người dân trong việc KCB BHYT ngày càng giảm sút.

Đối với BHXHVN, quỹ BHYT cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn về tài chính. Khó khăn trước mắt hiện nay của các nhà quản lý quỹ BHYT là làm sao cân đối được thu, chi quỹ và đảm bảo quyền lợi KCB cho đối tượng thụ hưởng. Tình hình thu chi quỹ BHYT có nhiều điểm diễn biến phức tạp. Nguồn hình thành của quỹ BHYT do người lao động, đơn vị sử dụng lao động đóng góp và sự hỗ trợ của nhà nước cho người nghèo, các đối tượng chính sách. Những năm gần đây, quỹ BHYT có nguy cơ bị vỡ quỹ do chi phí BHYT lớn hơn thu BHYT. Việc thanh toán chi phí KCB còn phức tạp, qua nhiều khâu dẫn đến khó kiểm soát. Việc thanh quyết toán còn thụ động, dựa vào cơ sở KCB. Dưới góc độ các cấp dự toán, việc lập quỹ BHYT, quản lý nguồn tài chính quỹ BHYT, phân chia tài chính cho các đơn vị thanh toán BHYT hiện đang là vấn đề đòi hỏi sự quản lý ngày càng chặt chẽ về mặt tài chính nhưng vẫn đảm bảo ASXH, đồng thời phải đáp ứng được quyền lợi của đối tượng thụ hưởng BHYT.

Về phía cơ sở KCB, nhiều sai phạm đã xảy ra trong thực hiện hợp đồng như: chỉ định thuốc và xét nghiệm không phù hợp với chuẩn đoán của bác sỹ; đấu thầu mua

 

thuốc đắt; bỏ qua các thủ tục trong việc thu, quản lý và sử dụng quỹ BHYT; một số bệnh viện không có đủ chữ ký trên chứng từ, không lưu toa thuốc, không tính tiền trên phiếu phát thuốc… nhưng vẫn được thanh quyết toán với BHXH dẫn đến thâm hụt quỹ BHYT. Việc thanh quyết toán giữa các cơ sở KCB các cấp với BHXHVN còn nhiều bất cập. Theo cách quyết toán BHYT, chi phí KCB của người dân chuyển lên tuyến trên đều được tính vào quỹ BHYT tuyến huyện, tuyến tỉnh. Nhiều căn bệnh của bệnh nhân còn kéo theo những xét nghiệm không thật cần thiết và gây lãng phí. Số tiền quỹ BHYT tại tuyến dưới bị khống chế theo năm không thay đổi trong khi đó bệnh nhân chuyển lên tuyến trên sử dụng nhiều thủ thuật dịch vụ kỹ thuật cao làm cho số quỹ BHYT ở tuyến dưới đã eo hẹp lại càng trở nên khó khăn. Vì thế, tiền BHYT luôn trong tình trạng bội chi. Hiện nay, số lượng các bệnh viện công ít, bệnh viện tư không mặn mà với KCB BHYT, bệnh nhân ngày càng đông làm cho chất lượng KCB còn hạn chế.

Đối với đối tượng nộp và thụ hưởng BHYT, việc KCB BHYT không còn mặn mà. Một số đối tượng nộp BHYT nhưng không hưởng do nhiều lý do khác nhau như: chất lượng dịch vụ BHYT không đảm bảo, thời gian chờ KCB quá lâu, thái độ y bác sỹ không nhiệt tình. Quyền lợi của đối tượng thụ hưởng BHYT chưa được đáp ứng đầy đủ.

Tóm lại, BHYT còn bất cập dưới nhiều góc độ: Tính ASXH của nhà nước chưa đảm bảo, sự an toàn của quỹ BHYT còn bấp bênh, cơ sở KCB còn nhiều hiện tượng chi BHYT sai quy định, lợi dụng để trục lợi quỹ BHYT, người hưởng BHYT không thiết tha với BHYT vì không được hưởng quyền lợi BHYT trọn vẹn. Nguyên nhân là do BHXHVN, cơ sở KCB và đơn vị sử dụng lao động cũng như đối tượng nộp và hưởng BHYT không có sự liên kết thông tin, đặc biệt là thông tin về tài chính. Mỗi đơn vị hoạt động đơn lẻ, rời rạc chưa gắn kết thông tin dẫn đến việc quản lý quỹ BHYT còn bị động, tạo kẽ hở cho việc trục lợi quỹ BHYT.

Để quản lý chặt chẽ quỹ BHYT đòi hỏi sự giám sát của các bên: BHXHVN – đơn vị chủ quản quỹ; các cơ sở KCB – đơn vị chi tiêu quỹ và đối tượng nộp, hưởng BHYT. Trong đó, BHXHVN là đơn vị kiểm soát trực tiếp quá trình thu, chi quỹ BHYT. Hiện nay, HTTTKT quỹ BHYT cung cấp còn rời rạc, chưa có sự gắn kết giữa các bên. Thậm chí thông tin cung cấp cho đối tượng BHYT còn nghèo nàn. Do đó, BHXHVN còn thụ động trong quản lý quỹ, việc thanh toán lệ thuộc nhiều vào các cơ

 

sở KCB. Để khắc phục tình trạng này, BHXHVN phải có một HTTT, đặc biệt là HTTTKT, một cách nhanh nhậy và chính xác nhằm đưa ra quyết định phù hợp. HTTTKT phải có sự gắn kết với các HTTT khác trong cùng ngành và trong tương lai phải có mối quan hệ chặt chẽ với các đơn vị bên ngoài có liên quan đến quỹ BHYT như cơ sở KCB, đơn vị sử dụng lao động, địa phương nơi cư trú của người đóng, thụ hưởng BHYT. Qua nghiên cứu lý luận, tìm hiểu những hạn chế về HTTTKT quỹ BHYT tại các đơn vị BHXH, đơn vị chủ quản quỹ BHYT, thấy rõ tầm quan trọng của HTTTKT trong việc quản lý quỹ BHYT, tác giả chọn đề tài: “Hệ thống thông tin kế toán quỹ BHYT tại cơ quan BHXH Việt Nam” để nghiên cứu. Trong đó, trục quan hệ cần kiểm soát quỹ BHYT là:

 

 

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa BHXHVN, cơ sở KCB và đối tượng hưởng BHYT

 

(Nguồn: Theo nghiên cứu của tác giả)

 

Hàng tháng, đối tượng nộp BHYT cho BHXHVN và BHXHVN cấp thẻ BHYT cho đối tượng. Khi ốm đau, bệnh tật, đối tượng nộp BHYT đến các cơ sở KCB nộp thẻ BHYT để khám và chữa bệnh. Các cơ sở KCB được BHXHVN phân phối quỹ KCB và sau khi bệnh nhân khám xong, các cơ sở KCB nộp hồ sơ bệnh án lên BHXHVN để quyết toán chi phí KCB.

1.2.   Tổng quan các nghiên cứu về đề tài

 

1.2.1.   Các nghiên cứu ở nước ngoài

 

Trên thế giới có nhiều tác giả bàn về HTTTKT. Trong đó có một số tác giả điển hình như sau:

Cuốn ” Accounting Information System” của tác giả Jame A.Hall, năm 2009,

 

6th edition tại South – Westarn.

Cuốn ” Accounting Information System” của tác giả JL Bookkholdt, năm 1997, IRWIN edition, Fifth edition, USA.

Cuốn ” Accounting Information System” của các tác giả Romney M.B, Steibart Paul John, năm 2012, Prentice – hall edition, 12th edition, USA.

Cuốn ” Accounting Information System” của các tác giả George H.Bodnar, William S. Hopwood, năm 1998, Prentice – hall edition, USA.

Đây là những tác giả bàn luận về HTTTKT trong các cuốn sách làm căn cứ lý luận cho nhiều nhà nghiên cứu về HTTTKT. Hầu hết các tác giả trước khi nghiên cứu HTTTKT đều tìm hiểu về HTTT. Quan điểm của các tác giả tương đối đồng nhất về HTTT. Các tác giả đều cho rằng, HTTT là hệ thống tiếp nhận các nguồn dữ liệu như các yếu tố đầu vào và xử lý chúng thành các sản phẩm thông tin là các yếu tố đầu ra. HTTT có 4 chức năng chính là: đưa thông tin vào, xử lý thông tin, lưu trữ thông tin và đưa thông tin ra. Ngoài ra, nó còn giúp cho người lãnh đạo và quản lý thực hiện công việc kiểm soát và quản lý toàn bộ hệ thống. HTTT bao gồm nhiều loại: HTTT tổ chức, HTTT sức khỏe, HTTT quản lý. Trong các HTTT, HTTT quản lý được biết đến sớm và phổ biến nhất. HTTT quản lý là sự phát triển và sử dụng HTTT có hiệu quả trong một tổ chức. Nói đến các yếu tố cấu thành của HTTT quản lý xét ở trạng thái tĩnh, các tác giả cho rằng bao gồm 5 yếu tố: Thiết bị tin học (máy tính, các thiết bị, các đường truyền,..- phần cứng), các chương trình (phần mềm), dữ liệu, thủ tục – quy trình và con người. Nói đến vai trò của kế toán trong HTTTKT, các tác giả cho rằng, kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ công cụ quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính trong đơn vị, có vai trò cung cấp thông tin để thực hiện mục tiêu quản trị nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Các thông tin do kế toán cung cấp cần thiết với nhu cầu của nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định. Những người ra quyết định qua việc sử dụng thông tin kế toán sẽ đưa quyết định có nhiều khả năng nhất để hoàn thành các mục tiêu của họ. Do vậy, HTTTKT là một phần của HTTT quản lý.

HTTTKT là một HTTT được thiết kế để có thể thực hiện chức năng của kế toán. HTTTKT tạo các quy trình dữ liệu và các giao dịch nhằm cung cấp cho người sử dụng các thông tin mà họ cần nhằm lập kế hoạch, kiểm soát và thực hiện công việc của họ. HTTTKT có thể là một hệ thống thủ công hoặc có thể là một hệ thống máy hóa với

 

việc sử dụng máy tính. Bất kể là dạng gì HTTTKT được thiết kế để thu thập đầu vào, quy trình, lưu trữ và lập báo cáo dữ liệu và thông tin.

Ngoài ra, HTTTKT còn được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau trên các tạp chí như Flynn, Salehi, Mahdi, Vahab, Mogadam, Abdolkarim; Morteza và các cộng sự… Mỗi tác giả nghiên cứu dưới một yếu tố cấu thành HTTTKT: CNTT (Phần cứng và phần mềm), dữ liệu, quy trình, kiểm soát. Nói đến hiệu quả của HTTTKT, chúng ta phải nói đến tính hiệu quả, tính hữu dụng cuả nó. Cụ thể:

Nói đến việc áp dụng HTTTKT được chấp nhận nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản lý đưa ra được quyết định phù hợp hướng tới sự quản lý hiệu quả. Corner (1989) lại cho rằng hiệu quả của HTTTKT có thể được đánh giá như giá trị tăng thêm của lợi ích. Còn Gelines (1990) xem xét hiệu quả HTTTKT như thước đo sự thành công nhằm đáp ứng được mục tiêu đã thiết lập. Hiệu quả của HTTTKT có thể được đánh giá việc sử dụng một hay nhiều mô hình khác nhau. Điểm yếu chính của nghiên cứu này là chưa nêu được ảnh hưởng của chuẩn mực kế toán, chưa kết hợp với các hệ thống quản lý và tài chính khác với HTTTKT. Trong nghiên cứu này, các nhà quản lý chỉ nhận thức được lợi ích của HTTTKT sẽ thực hiện nhiều hơn nhằm giảm khoảng cách giữa các doanh nghiệp. (Salehi, Mahdi, Vahab, Mogadam, Abdolkarim, 2010)

Mỗi nhà nghiên cứu khoa học nói đến tính hiệu quả ở mỗi khía cạnh khác nhau nhưng đều hướng tới cái đích cần đạt được: sự quản lý hiệu quả, gia tăng thêm lợi ích, đáp ứng được mục tiêu đã thiết lập. Về cơ bản, với các giả thuyết nghiên cứu, thiết kế và xây dựng bảng hỏi, khảo sát và phỏng vấn sâu, các nhà nghiên cứu đều kết luận rằng hiệu quả của HTTTKT có thể được xem xét như việc sử dụng thành công của hệ thống, đảm bảo nhu cầu của người sử dụng. Rõ ràng, tính hiệu quả một HTTTKT còn phụ thuộc vào hoạt động của đơn vị là loại hình nào, mục đích cần đạt được là gì. Nếu là đơn vị sản xuất, việc gia tăng thêm lợi ích là thước đo tính hiệu quả của HTTTKT nhưng một đơn vị thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao hay cung cấp dịch vụ công thì thước đo đáp ứng được mục tiêu lại đo tính hiệu quả của việc sử dụng HTTTKT.

Về sự hữu dụng của HTTTKT trong nền kinh tế mới nổi, các tác giả Salehi, Mahdi, Vahab, Mogadam, Abdolkarim (2010) cho rằng: HTTTKT trước đây tập trung vào việc ghi nhận, tổng hợp và xác nhận dữ liệu về các giao dịch tài chính. Trước đây, hệ thống kế toán được viết bằng phương thức thủ công nhưng hiện nay đã được viết

 

bằng phần mềm kế toán. Sự phát triển ngày càng nhanh về CNTT đã tạo sự tiện ích cho việc sử dụng chi phí và quản lý thủ tục kế toán. Phát triển CNTT trở nên quan trọng trong những thập niên gần đây và lan rộng trong thị trường và xã hội toàn cầu.

Nói đến CNTT là đề cập đến 2 phần: phần cứng, phần mềm kế toán. Phần cứng là nói đến máy tính còn phần mềm là các chương trình phần mềm được lập ra trong đơn vị. Nhiều tác giả nghiên cứu về từng khía cạnh trong CNTT ảnh hưởng đến HTTTKT. Tác giả Morteza và các cộng sự (2012) nghiên cứu về phần mềm kế toán và cho rằng, để mong chờ một phần mềm kế toán hữu dụng phải phụ thuộc vào các yếu tố: đặc điểm chung (dễ lắp đặt, dễ sử dụng, rõ nguồn gốc, khả năng hiện đại hóa), tính so sánh được, tính linh hoạt, khả năng kiểm soát nội bộ và khả năng báo cáo. Các tác giả Morteza Ramazani và Farnaz Vali Moghaddam Zanjani (2012) cho rằng: Để thành công, mỗi công việc đòi hỏi phải có một HTTTKT có khả năng cung cấp thông tin một cách đáng tin cậy, kịp thời cho việc ra quyết định trong một môi trường cạnh tranh. Phần mềm kế toán là một công cụ chính trong HTTTKT, thông tin kịp thời, chính xác và đáng tin cậy. Mục đích nghiên cứu của các tác giả là khám phá ra khoảng cách tồn tại giữa tình huống thực tế và tình huống mong đợi của phần mềm kế toán được sử dụng dựa trên đặc điểm của HTTTKT. Với các phương pháp nghiên cứu là “Thực nghiệm” và số liệu được thu thập thông qua “khảo sát”, các nhà nghiên cứu đã sử dụng 6 biến: đặc điểm chung, tính so sánh, sự linh hoạt, kiểm soát, đào tạo, lập báo cáo. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có tồn tại khoảng cách đang quan tâm trong cả 6 biến. Qua nghiên cứu này, ta thấy rõ tầm quan trọng của phần mềm kế toán trong tổ chức thực hiện HTTTKT trong các tổ chức. Phần mềm kế toán là một công cụ để thực thi HTTTKT, ngược lại khi tiến hành xây dựng phần mềm kế toán thì phải dựa vào đặc điểm của HTTTKT. Ngoài ra, Qatawneh, Adel M (2012) cũng đã chứng minh ảnh hưởng của thương mại điện tử đến HTTTKT. Ông cho rằng CNTT là yếu tố rất cần cho việc cung cấp dịch vụ.

Tác giả Markus Granlund (2007) cũng đưa quan điểm của mình về nghiên cứu HTTTKT. Tác giả đã đưa mối quan hệ giữa kế toán quản trị và CNTT hiện đại trên các giao diện. Dựa trên việc xem xét các nghiên cứu trước đây và dữ liệu thực nghiệm, tác giả đã gợi ý rằng học viện kế toán nhìn chung có một sự hiểu biết hạn chế về sự phát triển hiện tại trong các giao diện kế toán – CNTT. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá phê bình tình trạng nghiên cứu trên giao diện giữa kế toán và CNTT. Nghiên cứu này đề cập trên giao diện giữa HTTT và kế toán quản trị, kiểm soát. Phân

 

tích tập trung đến việc mang lại lợi ích, sự hạn chế hiệu lực phát triển HTTT về kế toán và thực hành kiểm soát. Nghiên cứu thảo luận chi tiết việc chuyển tiềm năng của CNTT hiện đại với nội dung của kế toán, những phức tạp đan xen trong việc tích hợp CNTT với kế toán và kiểm soát, với những nghịch lý của tính phức tạp của CNTT và biểu hiện của nó trong nội dung kế toán quản trị. Phân tích đã đưa ra được lý do đáng quan tâm về tình trạng nghiên cứu HTTTKT hiện tại trong một số khía cạnh. Mặt khác, nghiên cứu này kết luận rằng nghiên cứu HTTTKT sẽ phải đề cập nhiều hơn nữa nội dung các vấn đề kế toán. Gợi ý này cũng gần với quan điểm được bày tỏ của Sutton (2005) và Arnold (2006). Các nhà nghiên cứu HTTTKT sẽ phát triển một sự hiểu biết tốt hơn về nghiên cứu và thực hành kế toán trước khi nghiên cứu giao diện kế toán – HTTT. Hơn nữa, cùng nghiên cứu tiểu ngành sẽ làm tăng cường hiểu biết tốt hơn về giao diện kế toán – CNTT.

Nói đến chất lượng dữ liệu là dữ liệu được quan tâm dưới các góc độ: tính chính xác, kịp thời, kiên định, và khả năng tiếp cận (Wang và các cộng sự, 1995). Một số tác giả cho rằng nói đến chất lượng dữ liệu là nói đến độ tin cậy của nó, có 2 yếu tố quan trọng của độ tin cậy dữ liệu là tính đầy đủ và tính chính xác. (Ballow & Pazer,1985; Redman 2001 ch 14; Wang và các cộng sự, 1995). Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, có ý kiến cho thấy chất lượng của dữ liệu được coi là sự hài lòng của khách hàng. (Dustin C.Derby và các cộng sự, 2009). Việc sử dụng các dữ liệu điện tử đã được chứng minh làm giảm thời gian của nhân viên, chi phí trực tiếp và gián tiếp, giảm các lỗi dữ liệu. (Galliher và các cộng sự, 2008).

Để nghiên cứu rõ về HTTTKT, các tác giả: Michael Alles, Mieke Jans, Miklos Vasarhelyi (2011) đã đưa ra một phương pháp nghiên cứu mới. Đó là “khai thác quy trình”. Khai thác quy trình là phân tích HTTT chứa đựng trong việc ghi chép sự kiện, đó là một bộ dữ liệu được xây dựng từ thông tin được ghi nhận trong HTTT hiện đại. Dữ liệu đó bao gồm cả thông tin đầu vào từ người sử dụng và thông tin lớn về giao dịch đó, như là đánh dấu dữ liệu và nhận dạng người sử dụng. Quan trọng hơn, thông tin lớn là thông tin được ghi nhận tự động bởi hệ thống, dựa trên sự kiểm soát của người sử dụng hoặc ngăn chặn việc ghi nhận, cái làm cho sự việc được ghi nhận là các công cụ kiểm soát có giá trị. Hơn nữa, việc ghi nhận dữ liệu của các giao dịch nhiều để phân tích các mô hình được tiến hành trên sự hiểu biết khác nhau của quá trình. Khám phá quá trình đã được nghiên cứu rộng rãi trong khoa học máy tính và khoa học quản lý cũng như chấp nhận trong ngành công nghiệp với sự hỗ trợ của các công ty công

 

nghệ cao. Nghiên cứu này cung cấp cho các nhà nghiên cứu hệ thống thông tin kế toán cùng với sự giới thiệu về khai thác quy trình, xem khám phá quá trình được thực hiện và trao đổi như thế nào và tại sao nó có thể làm tăng giá trị cho cả nghiên cứu và thực hành kế toán. Các tác giả cho rằng có ít nhất 5 giai đoạn khác nhau trong khai thác quá trình: Khám phá quy trình, kiểm tra sự phù hợp, phân tích hiệu suất, phân tích mạng xã hội, xác minh và khai thác quyết định.

Còn Michael Alles (2011) cho rằng, khai thác quy trình là hệ thống tự động phân tích thông tin chứa trong nhật ký sự kiện, là bộ dữ liệu được xây dựng từ thông tin được ghi nhận trong hệ thống CNTT hiện đại. Dữ liệu đó bao gồm cả thông tin đầu vào bởi những người sử dụng và thông tin đa chiều về các giao dịch đó như là các item dữ liệu và nhận dạng người sử dụng. Thông tin đa chiều được tự động ghi vào hệ thống dựa trên sự điều khiển của người sử dụng để ghi nhận hoặc không ghi nhận, làm cho nhật ký sự kiện có thể trở thành công cụ kiểm soát. Dữ liệu trong nhật ký sự kiện nhiều đến mức tạo ra nhiều mô hình phân tích. Khai thác quy trình đã được nghiên cứu nhiều trong khoa học quản lý và máy tính.

Về kiểm soát trong HTTTKT, Theo Dolejsovas, Miroslava (2008), việc kiểm soát thường được kết nối với các HTTT và kế toán. Các kế toán viên cần quan tâm đến việc xác minh số liệu kế toán và bảo mật thông tin. Tác giả mô tả các khuyến nghị trong bảo mật dữ liệu kế toán: các quy tắc cho việc xử lý mật khẩu, các quy tắc cho việc sao lưu dữ liệu, các quy tắc cho việc đóng các ứng dụng, các quy tắc cho các thư điện tử, các quy tắc cho Internet và các quy tắc cho bảo mật dữ liệu. Theo ông, kiểm soát có thể hỗ trợ kế toán đảm bảo tốt hơn dữ liệu kế toán và thấy rõ tầm quan trọng của sự bảo mật thông tin trong kế toán, việc áp dụng kiểm soát trong HTTTKT và cung cấp các khuyến nghị đối với việc sử dụng dữ liệu kế toán hàng ngày.

Theo Brandas, Claudiu (2013), việc kiểm soát theo quy trình đảm bảo tính toàn vẹn, thực tế, độ chính xác, kịp thời của các báo cáo tài chính. Các tác giả cho rằng việc sử dụng CNTT trong các quy trình kế toán đang ngày càng phổ biến dẫn đến mối quan tâm nghiên cứu về những rủi ro, kiểm soát và kiểm toán của các HTTTKT ngày càng tăng.

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng, một số tác giả cũng thấy rõ tầm quan trọng của HTTTKT. Các tác giả nghiên cứu về HTTTKT trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe khá phong phú. Tác giả Davor Vasicek và Gorana Roje (2010) cho rằng:

 

Trong việc xem xét toàn diện việc chấp nhận cơ sở dồn tích và chuẩn mực kế toán công quốc tế, nghiên cứu này kiểm tra tính hợp lý của sự tồn tại kế toán dựa trên cơ sở dồn tích đã được xác định và hệ thống báo cáo tài chính chăm sóc sức khỏe trong lĩnh vực công. Nghiên cứu này với phương pháp phân tích thực nghiệm đã chỉ rõ HTTTKT chứa đựng những khác biệt và khó khăn trong việc đảm bảo cái nhìn hợp lý và trung thực về vị trí tài chính của tổ chức và hiệu suất của nó. Với đặc trưng của HTTTKT, các tác giả tranh luận rằng việc chăm sóc sức khỏe công đại diện cho một hệ thống lớn về phân khúc kế toán với sự thiếu hụt khuôn khổ kế toán lĩnh vực công – nơi mà thực thi kế toán trên cơ sở dồn tích có thể cung cấp những minh chứng đáng tin cậy. Từ những năm thập niên 80 đã có một làn sóng mạnh mẽ về cải cách kế toán, quản lý và tổ chức trong lĩnh vực công của nhiều nước và khu vực pháp lý. (Barton, 2004). Vấn đề quản lý lĩnh vực công mới đang chiếm ưu thế trong cuộc cải cách này.(Hood, 1995). Việc thực hiện quản lý dựa trên các quy tắc kinh tế và các nguyên tắc hiệu quả thị trường đã làm tăng khả năng tính toán và cải thiện các công cụ quản lý (Azuma, 2003, 2005). Kể từ khi thông tin được coi là nguồn quan trọng nhất cần thiết trong quá trình quản lý, một sự phát triển của HTTTKT toàn diện, tạo bởi các chỉ dẫn dựa trên cơ sở kế toán dồn tích, tạo tiền đề cho việc quản lý thành công trong lĩnh vực công (IFAC, 2003, VAsicek, 2004). Với phương pháp khảo sát và phỏng vấn kế toán và các nhà quản lý về báo cáo tài chính trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhưng chỉ trong các bệnh viện, nơi mà tác giả cho rằng quan trọng và phức tạp nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe công, đã thấy rõ sự cần thiết cải cách HTTTKT nhằm nghiên cứu quản lý hiệu quả lĩnh vực chăm sóc sức khỏe công trong tương lai.

Việc giảm quỹ công và tập trung đo lường hiệu quả trong lĩnh vực dịch vụ công cũng đã làm ảnh hưởng đến quản lý và thực hành kế toán của nhiều hệ thống chăm sóc sức khỏe. Sự áp lực này dẫn đến nhiều nhà quản lý phải tìm kiếm các công cụ quản lý, thường bắt nguồn từ lĩnh vực tư nhân, trong nỗ lực hợp lý hóa việc sử dụng nguồn lực. Việc tính chi phí dựa trên hoạt động là một trong những kỹ thuật đó. Nghiên cứu đã cung cấp khá rõ nét thông tin chi phí cho việc kiểm soát và đưa ra quyết định. Các tác giả nghiên cứu theo chiều dọc việc ứng dụng kế toán cung cấp sự hiểu biết thông qua quá trình và ban hành đổi mới về chi phí trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. (Michela Arnabodi and  Irvine Lapsley, 2005).

Cũng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, các tác giả Bernstein, Mariel L, MeCreless, Tamuchin (Winter 2007) đã đưa ra 5 thông số cho việc chấp nhận CNTT.

Ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe đã phát triển CNTT một cách độc lập nhằm duy trì và cải thiện hoạt động KCB và hoạt động kinh doanh. Liệu CNTT được sử dụng cho việc tự động hóa văn phòng hoặc cho việc giảm các lỗi KCB, có 5 thông số ảnh hưởng thường xuyên đến sự hội nhập thành công của CNTT trong việc KCB. Các thông số này được sử dụng riêng và duy trì ngân sách CNTT, có vai trò hỗ trợ cho các lãnh đạo, sử dụng quản lý các dự án, quá trình thực hiện và có ý nghĩa với các bên liên quan đến người sử dụng. Các thông số này cũng là một thách thức đối với các tổ chức chăm sóc sức khỏe nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực và tài chính khi chấp nhận CNTT hiện đại. Sự hiểu biết các thông số này và sự tương tác của chúng làm cho các tổ chức chăm sóc sức khỏe hòa nhập tốt hơn CNTT hiện đại và mục tiêu của tổ chức là phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ vững chắc để thực sự nâng cao chất lượng KCB.

ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN TOÀN BỘ BÀI VIẾT XIN QUÝ KHÁC LIÊN HỆ

Web: http://chuyenvietthueluanvan.com/

Mail: Thacsi999@gmail.com

Hotline, ZALO: 0926.708.666

Leave Comments

0926708666
0926708666