Đo lường Văn hóa doanh nghiệp tại Trung tâm VIETTEL Thành Phố Huế

Văn hóa doanh nghiệp

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1.   Lí do chọn đề tài

Trong môi trường hội nhập WTO, vấn đề đáng lo ngại là chảy máu chất xám, các doanh nghiệp Việt Nam phải trả lời câu hỏi: “Điều gì khiến con người gắn bó với doanh nghiệp, điều gì làm cho doanh nghiệp trường tồn vượt xa cuộc đời những người sáng lập: Đó chính là văn hóa doanh nghiệp. Theo Ts. Phan Quốc Việt: ‘Ở mức độ thấp, đồng lương có thể khiến mọi người lung lay, nhưng ở mức độ cao, khi được giác ngộ nhu cầu về lý tưởng và mục đích sẽ quyết định hành động”. Văn hóa tổ chức là nền tảng cho việc tạo ra những giá trị, là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp. Nhưng thực chất của những vấn đề này là gì và làm thế nào để có thể hiểu và giải quyết tốt chúng trong từng điều kiện cụ thể thì không hề dễ.

Thực chất việc xây dựng VHDN đã được các công ty lớn trên thế giới quan tâm từ rất lâu, nổi bật có thể kể đến Coca Cola, Microsoft, Apple hay những công ty công nghệ thuộc thung lũng Silicon…sự thành công của những công ty này luôn có sự hiện diện của một yếu tố rất quan trọng đó là văn hóa. Chính những công ty này đã xây dựng được một nền văn hóa tốt đẹp, tạo nên sự sáng tạo của nhân viên và sự gắn bó, sự trung thành để từ đó cống hiến hết mình cho công ty.

Với xu hướng hội nhập, mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam như hiện nay, các đại gia viễn thông trên thế giới sẵn sàng nhảy vào thị trường đầy tiềm năng này ở Việt Nam giành thị phần, chưa kể đến sự cạnh tranh quyết liệt của những doanh nghiệp lớn trong nước luôn hiện hữu. VIETTEL đã làm gì để có được thành công như ngày nay, họ đã làm gì đề có thể tồn tại và phát triển trước sức ép của các doanh nghiệp bên ngoài cũng như sự gay gắt trong cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa?

Với mong muốn được tìm hiểu rõ hơn về văn hóa, môi trường làm việc của một doanh nghiệp đậm chất lính như VIETTEL và góp một phần nhỏ của mình vào sự phát triển hơn trong tương lai của VIETTEL, tôi đi đến quyết định chọn đề tài “Đo lường Văn hóa doanh nghiệp tại Trung tâm VIETTEL Thành Phố Huế bằng phần mềm CHMA” để làm đề tài thực tập tốt nghiệp của mình.

2.   Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu tổng quát

Đo lường bản sắc văn hóa doanh nghiệp hiện tại cũng như mong muốn trong tương lai của nhân viên đối với TT VIETTEL Thành Phố Huế, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp để giúp TT duy trì và cải thiện để có được loại hình văn hóa như mong muốn.

b.    Mục tiêu cụ thể

  • Hệ thống hóa các về mặt lí luận và thực tiễn các vấn đề liên quan đến bản sắc văn hóa doanh nghiệp và phần mềm
  • Đo lường VHDN tại TT VIETTEL Thành Phố Huế thông qua phần mềm
  • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố có tác động đến việc hình thành VHDN ở TT: nhóm yếu tố giá trị, tầm nhìn, sứ mệnh, chiến lược; nhóm yếu tố chuẩn mực, nghi lễ, lịch sử doanh nghiệp và nhóm yếu tố không khí, phong cách quản lí trong doanh nghiệp. Đồng thời tìm hiểu, đánh giá về tác động của nhóm yếu tố hữu hình tại
  • Đề xuất những giải pháp và định hướng nhằm nâng cao, cải thiện bản sắc VHDN tại TT VIETTEL Thành Phố Huế trong thời gian tới.
  • Phân tích hoạt động kinh doanh của Chi nhánh VIETTEL Thừa Thiên Huế giai đoạn 2012 –

3.   Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: VHDN tại TT VIETTEL Thành Phố Huế.
  • Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: TT VIETTEL Thành Phố Huế.

+ Phạm vi thời gian:

  • Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ trước đến
  • Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các phiếu phỏng vấn được trả lời trực tiếp bởi các cán bộ nhân viên tại TT VIETTEL Thành Phố Huế, bao gồm 109 bảng được lấy từ toàn bộ CBCNV ở Trung tâm từ tháng 02 đến tháng 04 năm

4.   Phương pháp nghiên cứu

  • Nghiên cứu định tính

Do đề tài sử dụng phần mềm CHMA để đánh giá, đo lường về loại hình văn hóa trong doanh nghiệp nên việc xây dựng bảng hỏi được rút ra từ những câu hỏi trong phần mềm CHMA.

4.2.   Nghiên cứu định lượng

Dựa vào những câu hỏi trong phần mềm CHMA, đề tài tiến hành thiết kế bảng hỏi để đo lường nhận thức của các thành viên trong TT về các yếu tố VHDN của TT.

Bảng hỏi có 24 câu hỏi về 3 nhóm yếu tố cấu thành VHDN của TT.

  • Nhóm yếu tố giá trị, tầm nhìn, sứ mệnh, chiến lược: bao gồm 9 câu, tập trung làm rõ nhận thức các nhân viên về tầm nhìn, sứ mệnh, triết lí kinh doanh và niềm tin của TT VIETTEL Thành Phố Huế.
  • Nhóm yếu tố chuẩn mực, nghi lễ, lịch sử doanh nghiệp: bao gồm 5 câu, tập trung làm rõ nhận thức của nhân viên về đạo đức kinh doanh, lịch sử hình thành và phát triển, người sáng lập và các thế hệ lãnh đạo, các nghi lễ nội bộ và các sự kiện tổ chức bên ngoài.
  • Nhóm yếu tố không khí và phong cách quản lí của doanh nghiệp: bao gồm 10 câu, tập trung làm rõ nhận thức của nhân viên về hệ thống quản lí, phong cách quản lí của người lãnh đạo và bầu không khí làm việc bên trong công

Phương pháp chọn mẫu điều tra:

  • Cỡ mẫu ít nhất là phải gấp 4 hoặc 5 lần số biến trong bảng hỏi để đảm bảo ý nghĩa nghiên cứu. Vì vậy, với số lượng biến là 24 thì chúng ta cần phải có ít nhất là 120 mẫu điều
  • Do tổng số cán bộ nhân viên của trung tâm là dưới 120 người (109 người) nên đề tài sẽ dùng phương pháp chọn mẫu toàn bộ.

4.3.   Phương pháp phân tích số liệu

  1. Thống kê mô tả
    • Dùng để trình bày, so sánh các đặc điểm mẫu. Và các đánh giá của nhân viên về các tiêu chí đưa
    • Thống kê tần số, tần suất.
    • Tính toán giá trị trung bình.
    • Mô tả các thuộc tính của mẫu khảo sát như: giới tính, độ tuổi, trình độ, vị trí làm việc, thời gian công tác, mức độ hài lòng và thu nhập của toàn bộ

b.    Kiểm định sự khác biệt trong đánh giá của nhân viên theo các đặc điểm cá nhân

Ta dùng kiểm định ANOVA để kiểm định xem có sự khác nhau không trong đánh giá của các thành viên đang làm việc tại TT có đặc điểm về sự hài lòng với công việc, vị trí làm việc, thời gian công tác, trình độ học vấn khác nhau.

Cặp giả thuyết:

  • H0: Không có sự khác biệt về cách đánh giá các yếu tố VHDN của các nhóm đối tượng khác nhau
  • H1: Có sự khác biệt về cách đánh giá các yếu tố VHDN của các nhóm đối tượng khác

Mức ý nghĩa kiểm định là 95%:

  • Nếu Sig < 05: Bác bỏ giả thiết H0
  • Nếu Sig > 05: Chưa có cơ sở bác bỏ giả thiết H0.

c.     Đánh giá các loại hình văn hóa trong doanh nghiệp

Thông qua đánh giá của các thành viên đang làm việc tại TT chúng ta tính ra được giá trị trung bình từng mô tả. Sau đó sử dụng phần mềm CHMA để đánh giá xem TT VIETTEL Thành Phố Huế thuộc loại hình văn hóa nào sau đây:

C: Kiểu gia đình (hướng nội và linh hoạt).

H: Kiểu thứ bậc, tôn ti trật tự (hướng nội và kiểm soát). M: Kiểu thị trường (hướng ngoại và kiểm soát).

A: Kiểu sáng tạo (hướng ngoại và sáng tạo).

4.4.   Quy trình nghiên cứu

5.   Nội dung đề tài và bố cục đề tài Phần I: Đặt vấn đề

Trình bày lí do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tóm tắt bố cục đề tài.

Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Đo lường văn hóa doanh nghiệp tại  TT VIETTEL Thành Phố Huế bằng phần mềm CHMA

Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện và phát triển văn hóa tại trung tâm.

Phần II: Kết luận và kiến nghị

 

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.   Cơ sở lí luận

  • Văn hóa

Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)… Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động… Chính với cách hiểu rộng này, văn hoá mới là đối tượng đích thực của văn hóa học.Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu rộng này trên thế giới cũng có hàng trăm định nghĩa khác nhau. Để định nghĩa một khái niệm, trước hết cần xác định được những đặc trưng cơ bản của nó. Đó là những nét riêng biệt và tiêu biểu, cần và đủ để phân biệt khái niệm (sự vật) ấy với khái niệm (sự vật) khác.

Dưới đây, chúng ta đi vào xem xét từng đặc trưng của văn hóa được cùng các chức năng của nó:

Thứ nhất, văn hóa trước hết phải có tính hệ thống.

Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó. Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Nó là nền tảng của xã hội – có lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam ta dùng từ chỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hoá (nền văn hóa).

Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị.

Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”. Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị (ví dụ: thiên tai, mafia). Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị

 

vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ; theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.Vì vậy mà, về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn, theo bình diện được xem xét. Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trùvăn hóa hay không phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của nó. Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại nhà Hồ, nhà Nguyễn… đều đòi hỏi một tư duy biện chứng như thế. Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh.

Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo, nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo). Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng, đẽo gỗ…) hoặc tinh thần (như việc đặt tên, truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên…). Như vậy, văn hóa học không đồng nhất với đất nước học. Nhiệm vụ của đất nước học là giới thiệu thiên nhiên – đất nước – con người. Đối tượng của nó bao gồm cả các giá trị tự nhiên, và không nhất thiết chỉ bao gồm các giá trị. Về mặt này thì nó rộng hơn văn hoá học. Mặt khác, đất nước học chủ yếu quan tâm đến các vấn đề đương đại, về mặt này thì nó hẹp hơn văn hóa học.Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó.

Cuối cùng, văn hóa còn có tính lịch sử

Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích luỹ qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán. nghi lễ, luật pháp, dư luận…Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục. Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa.

Văn hóa doanh nghiệp

TRUNG TÂM LUẬN VĂN MBA-VIP VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ & TIẾN SĨ CHẤT LƯỢNG CAO.

Để biết nội dung toàn bộ bài viết xin bạn liên hệ với chúng tôi:

  • Hotline: 0926.708.666
  • Zalo: 0926.708.666.

Email:Lamthueluanvan2014@gmail.com

 

Tải toàn bộ bài: DOWNLOAD

Leave Comments

0926708666
0926708666