PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ Ở CHI CỤC THUẾ HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ

QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

MỞ ĐẦU

  1. Sự cần thiết của đề tài

Sự ra đời và phát triển của ngành Thuế luôn gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu. Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách Nhà nước. Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là thuế.

Ở nước ta ngay sau khi tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, một tuần lễ sau ngày công bố độc lập trước toàn thế giới ngày 02/09/1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 27 thành lập Sở Thuế quan. Trải qua 67 năm xây dựng và trưởng thành từ chỗ là Sở Thuế quan, Nha Thuế vụ, Vụ Thuế, Thuế công thương nghiệp . . . đến nay chúng ta đã có một hệ thống thuế hùng mạnh từ trung ương tới địa phương.

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, ngành thuế đã có những bước tiến bộ trong việc cải cách cơ chế quản lý thuế theo hướng tạo hành lang pháp luật trong chính sách thuế, quản lý thuế, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, đồng thời từng bước điều chỉnh các sắc thuế phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhờ đó, số thu từ thuế tăng đều qua các năm và ổn định, luôn trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước.

Trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường của cả nước, Đảng ta luôn coi trọng thành phần kinh tế tư nhân, luôn tạo môi trường bình đẳng, thuận lợi để các thành phần kinh tế cùng phát triển và thực tế những năm qua với một cơ chế đơn giản, năng động lực lượng hộ kinh doanh cá thể của cả nước đã không ngừng lớn mạnh, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên hệ thống thuế vẫn còn tồn tại những mặt còn hạn chế, thiếu sótnhư: Chính sách thuế chưa thực sự đồng bộ, việc thu thuế đôi khi còn trùng lắp, tính pháp lý chưa cao; chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường; chưa xoá bỏ triệt để cơ chế bao cấp qua thuế; chính sách thuế còn có những điểm quy định chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các tổ chức, cá nhân lợi dụng gian lận thuế, trốn thuế; Bên cạnh đó, ý thức về trách nhiệm đối với thuế của NNT nói riêng và người dân nói chung chưa tốt; công tác quản lý thuế còn yếu kém ở một số lĩnh vực; Chưa đẩy mạnh ứng dụng tin học vào công tác quản lý thuế; một bộ phận cán bộ thuế yếu cả về trình độ và phẩm chất đạo đức, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới… từ đó làm giảm hiệu quả quản lý của một số sắc thuế, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước.

Công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể còn nhiều điều bất cập, từ việc đăng ký thuế, xác định doanh thu, tính thuế đến việc thu thuế vẫn là một dây chuyền công việc khép kín gần như rườm rà, luẩn quẩn, không rõ ràng, gây ức chế cho NNT đồng thời lại tạo ra rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý thuế nói chung và ngành thuế nói riêng. Trong khi hộ kinh doanh cá thể ngày càng chứng tỏ là một mô hình kinh tế năng động, không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân và có những đóng góp quan trọng với Ngân sách Nhà nước. Chính vì vậy việc chọn và nghiên cứu đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ” theo tôi là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Hy vọng đề tài nghiên cứu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn sẽ góp phần việc xây dựng các giải pháp khả thi để giải quyết những vấn đề tồn tại đặt ra đối với việc quản lý hộ kinh doanh cá thể, trong sự tác động đến quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2010 – 2020.

2.     Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích chủ yếu của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, phân tích thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh Thuỷ, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với

hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh Thuỷ trong thời gian tới. Để đạt được mục đích đó, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh

doanh cá thể

  • Phân tích thực trạng của công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá

thể tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy

  • Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh

doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy trong thời gian tới

3.     Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chủ thể và khách thể của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, trọng tâm là nghiên cứu về việc tổ chức quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hộ khoán tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy.
  • Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở việc quản lý thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp khoán theo luật Quản lý thuế trên địa bàn huyện Thanh Thuỷ do Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy trực tiếp quản lý. Theo quy định của Luật quản lý thuế thì ngoài các hộ kinh doanh đáp ứng được yêu cầu của việc nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (gọi tắt là các hộ khấu trừ) thì các hộ còn lại tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên doanh số. Tuy nhiên, do không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ nên các hộ này nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán nộp thuế do cơ quan thuế ấn định dựa trên doanh thu của hộ. Do đó, trong phạm vi luận văn này không nghiên cứu quản lý thuế đối với hộ nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu, hộ khấu trừ và các sắc thuế khác của hộ nộp thuế theo phương pháp khoán như thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt (bởi không phát sinh trên địa bàn).

4.     Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu, quan sát, nhìn nhận phân tích sự việc trong sự biến động gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, ngoài ra các phương pháp chuyên ngành cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu như thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn giải, tiếp cận hệ thống.

5.     Đóng góp của luận văn:

  • Luận văn góp phần làm rõ lý luận về công tác quản lý thuế đối với hộ

kinh doanh cá thể.

  • Đánh giá đúng thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy và đề xuất các giải pháp có tính khả thi để tăng cường công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy trong thời gian tới.
  • Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định

chính sách thuế cũng như cơ quan quản lý thuế.

6.     Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương.

Chương 1: Những vấn đề lý luận về Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh

cá thể.

Chương 2: Phân tích công tác Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở

Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

 

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI

VỚI HỘ KINH DOANH THỂ

 

 

  • Những vấn đề chung về thuế

1.1.1.      Khái niệm về thuế

Ra đời tồn tại cùng với nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và quan niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện. Những nội dung cơ bản của thuế là:

  • Thuế là biện pháp động viên của nhà nước mang tính chất bắt buộc đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước.
  • Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên trong xã hội phải nộp vào ngân sách nhà nước.
  • Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công nhằm trang trải những chi phí nuôi sống bộ máy nhà nước và trang trải các chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng.
  • Thuế là một hình thức phân phối thu nhập được nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào ngân sách nhà nước.

Bản chất, đặc trưng của thuế:

Trên thực tế có rất nhiều các định nghĩa, quan điểm khác nhau, nhưng có

thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế như sau:

  • Một là: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội.
  • Hai là: Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt – việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước.
  • Ba là: Xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.

Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác như:

  • Tính bắt buộc
  • Tính không hoàn trả trực tiếp
  • Tính pháp lý

Từ nội dung, đặc trưng và bản chất của thuế, ta có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế như sau: “Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng”.

1.1.2.      Chức năng của thuế:

  • Là công cụ chủ yếu trong việc tập trung nguồn lực vào ngân sách nhà

nước để đảm bảo cho các chi tiêu của nhà nước.

  • Là công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường góp phần bảo đảm sự phát

triển ổn định, cân đối của nền kinh tế.

  • Là công cụ quan trọng góp phần tái phân phối thu nhập nhằm thực hiện

công bằng xã hội.

1.1.3.      Phân loại thuế:

Phân loại thuế là sự sắp xếp các sắc thuế trong cùng một hệ thống chính sách thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định.

Số lượng các sắc thuế trong hệ thống thuế của các quốc gia là không giống nhau, nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội và mục tiêu xây dựng hệ thống thuế quốc gia trong giai đoạn cụ thể. Tuy vậy, để phân tích tác động của thuế đến các quá trình kinh tế – xã hội nhằm xây dựng điều chỉnh hệ thốngthuế cho phù hợp người ta có thể lựa chọn các tiêu thức khác nhau để phân loại.

Trong phạm vi bài viết, xin đưa ra một vài cách phân loại như sau:

  • Phân loại theo phương thức đánh thuế: Theo tiêu thức này thuế được

chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.

  • Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế (NNT). Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng chịu thuế đồng thời cũng là người nộp thuế. Ở nước ta, các sắc thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất, thuế tài nguyên, …
  • Thuế gián thu là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản của NNT mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả của hàng hoá, dịch vụ. Thuế gián thu có đặc điểm là NNT và đối tượng chịu thuế không đồng nhất với Ở nước ta, các sắc thuế gián thu như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu…
  • Phân loại thuế theo cơ sở tính thuế: Đối tượng đánh thuế là gì, thuế đánh

trên cái gì? Dựa vào đó, thuế được chia thành các loại:

  • Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không đánh vào phần thu nhập phát sinh từ tài sản đó. Các loại thuế tài sản gồm: thuế nhà đất, thuế chuyển nhượng tài sản (nhà cửa, ô tô, xe máy…).
  • Thuế thu nhập là thuế đánh vào thu nhập kiếm được, như: thuế thu

nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.

  • Thuế tiêu dùng là loại thuế đánh vào phần thu nhập của người tiêu dùng khi mua hàng hoá, dịch vụ, như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.

1.2.          Quản lý thuế

1.2.1.      Một số khái niệm cơ bản về Quản lý thuế

  1. Quan niệm về Quản lý thuế

Để đảm bảo mục tiêu thu đúng, đủ thuế nhằm phát huy đầy đủ vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước phải đề ra các quy định, luật pháp nhằm tạo một hành lang thống nhất, buộc mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh phảihực hiện theo.

Để Luật pháp về thuế được đảm bảo thực hiện, Nhà nước phải tổ chức ra bộ máy để quản lý thu thuế và giám sát thực hiện đối với bộ máy này. Do bản chất của thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp nên việc yêu cầu NNT tự giác khi không có hệ thống luật pháp để bắt buộc là điều không thể thực hiện, thậm chí kể cả khi có hệ thống luật pháp về thuế, nhiều tổ chức cá nhân nộp thuế vẫn cố tình không thực hiện hoặc lợi dụng kẽ hở của chính sách để tư lợi. Vì vậy, vai trò quản lý thuế của Nhà nước mang tính áp đặt và là một tất yếu khách quan trong.

Để biết thêm nội dung toàn bộ bài xin liên hệ:Mail: Thacsi999@gmail.com; Hotline: 0926.708.666 

Leave Comments

0926708666
0926708666